Chiến trường tự hành

Nguồn: David Petraeus và Isaac C. Flanagan, “The Autonomous Battlefield,” Foreign Affairs, 12/03/2026

 

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng (nghiencuuquocte.org)

(Huy Le phụ đính)

 

Và tại sao quân đội Mỹ vẫn chưa sẵn sàng cho kiểu chiến trường này?

 

Kỷ nguyên của chiến tranh tự hành sẽ không bắt đầu bằng những đội quân người máy (robot) rầm rập tiến qua các chiến trường. Thay vào đó, nó đang dần hiện ra, lặng lẽ và không thể ngăn cản, trên bầu trời và những cánh đồng ở miền đông Ô Khắc Lan (Ukraine) (và ở mức độ thấp hơn là tại Trung Đông), nơi các nhiệm vụ ngày càng được thực hiện bởi máy móc với tốc độ mà không con người nào có thể sánh kịp, trong lúc tác chiến điện tử đang cắt đứt mối liên kết giữa những nhân viên vận hành và máy móc của họ. Chẳng bao lâu nữa, các hệ thống tự hành sẽ không còn hoạt động đơn lẻ; theo thời gian, chúng sẽ hình thành các đơn vị quy mô cấp trung đội, thậm chí cấp tiểu đoàn, có năng lực trao đổi thông tin và phối hợp mà không cần sự can thiệp của con người. Và bên nào còn phải chờ đợi sự phê duyệt của con người trước khi hành động thì bên đó sẽ nắm chắc phần thua.

 

Bước chuyển đổi này đòi hỏi các quân đội phải suy nghĩ lại không chỉ về bản chất của hệ thống chỉ huy, mà còn về bản chất cơ bản của chiến tranh. Thách thức thích ứng vượt xa các vấn đề công nghệ và công nghiệp, dù đúng là những khía cạnh đó vô cùng quan trọng. Hiện nay, các kỹ sư Ô Khắc Lan đang nhanh chóng phát triển phần mềm (nhu liệu) điều hướng tự hành, còn các kỹ thuật viên quân sự Ô Khắc Lan đang lắp ráp phi cơ không người lái theo dõi góc nhìn theo thời gian thực và các loại khác với số lượng phi thường: khoảng 3,5 triệu chiếc vào năm ngoái và có thể lên tới 7 triệu chiếc trong năm nay, so với 300.000 đến 400.000 chiếc hiện được lắp ráp mỗi năm ở Mỹ. Quân đội Mỹ sẽ phải thích ứng nhanh hơn rất nhiều để sản xuất số lượng khổng lồ phi cơ không người lái theo yêu cầu và học cách xử dụng một cách hiệu quả các hệ thống tự hành.

Nhưng chỉ có phần cứng (máy móc và thiết bị) và phần mềm (nhu liệu) thôi là chưa đủ. Việc phát triển các khái niệm và học thuyết mới, điều chỉnh cấu trúc tổ chức, và thiết lập các loại hình giáo dục và đào tạo quân sự mới mà chiến tranh tự hành đòi hỏi cũng quan trọng không kém. Đây đều là những lĩnh vực mà các thể chế quân sự thường quá thận trọng khi hành động. Nhưng quân đội nào đi đầu trong việc thay đổi cách họ nghĩ về hệ thống chỉ huy và bản chất đang tiến hóa của chiến tranh, sẽ, giúp quốc gia của họ giành chiến thắng trong các cuộc chiến của tương lai.

 

HỌC MÁY

Các hệ thống không người lái trong chiến tranh tồn tại trên một phổ rộng, nhưng không phải tất cả chúng đều tự hành. Ở một đầu của lãnh vực đó là các hệ thống điều khiển từ xa: máy móc được phi công hoặc nhân viên vận hành lái và điều khiển liên tục thông qua một liên kết liên lạc. (Hãy nghĩ đến một nhân viên vận hành phi cơ không người lái Predator ở Nevada đang điều khiển các nhiệm vụ trên bầu trời A Phú Hãn). Các quân đội đã bắt đầu kết hợp các hệ thống điều khiển từ xa từ nhiều thập niên trước: phi cơ mục tiêu không người lái đã có từ Thế chiến I, và võ khí dẫn đường trên không đã đi vào hoạt động từ Thế chiến II. Nhưng kỷ nguyên hiện đại của điều khiển từ xa bắt đầu vào năm 1995, khi chiếc Predator lần đầu tiên thực hiện nhiệm vụ trinh sát trên không phận Bosnia (Bosnia and Herzegovina – Ba Tư Ni Á Hòa Hắc Tắc Ca Duy Na). Tính đến năm 2015, quân đội Mỹ đã vận hành gần 11.000 thiết bị bay không người lái, tăng từ con số 90 vào năm 2001; Ngũ Giác Đài hiện có kế hoạch khai triển hơn 300.000 chiếc. Ngày nay, ước tính có khoảng 200.000 thiết bị không người lái điều khiển từ xa được phóng hàng tháng ở Ô Khắc Lan, cùng với các thiết bị mặt nước không người lái đã đánh chìm chiến hạm Nga và, trong một trường hợp, là bắn hạ tiêm kích cơ trên đại dương.

Nhưng không có hệ thống nào trong số này, dù tân tiến đến đâu, là tự hành. Chúng vẫn phụ thuộc vào con người điều khiển. Sự tự hành bắt đầu khi không còn cần đến người điều khiển nữa – hoặc vì tác chiến điện tử cắt đứt liên kết chỉ huy và kiểm soát của hệ thống và chương trình trên phi cơ tự động chiến quyền ra lệnh, hoặc vì hệ thống không còn cần điều khiển từ xa để hoàn thành nhiệm vụ. Ngưỡng tự hành này đã bị vượt qua ở Ô Khắc Lan (Ukraine). Các hệ thống không người lái do cả Kyiv và Moscow khai triển ngày càng mặc định chuyển sang chương trình có sẵn khi hệ thống gây nhiễu cắt đứt liên kết liên lạc của chúng, tiếp tục các nhiệm vụ được giao cho đến khi khôi phục được quyền kiểm soát của con người hoặc nhiệm vụ hoàn thành.

Cả Kyiv và Moscow đều đang thúc đẩy giới hạn của sự tự hành bởi vì tác chiến điện tử và phòng không đã trở nên quá phổ biến nơi chiến trường. Không một chỉ huy nào có thể trông cậy vào sự kiểm soát liên tục của con người. Các nhân viên vận hành võ khí của Ô Khắc Lan hiện nay thường xuyên phóng các hệ thống dù biết rõ rằng các liên kết điều khiển của chúng sẽ bị gây nhiễu, hoặc, giả mạo chỉ sau vài phút. Thành công của họ phụ thuộc vào mức độ lập trình sẵn của phần mềm (nhu liệu) để thiết bị bay không người lái có thể tự động nắm quyền kiểm soát khi liên lạc bị cắt đứt. Trong một cuộc tấn công của Ô Khắc Lan vào lực lượng Nga gần Kharkiv hồi tháng 12/2024, lữ đoàn Vệ binh Quốc gia 13 của Ô Khắc Lan đã phát động chiến dịch được cho là chiến dịch tấn công đầu tiên được thực hiện hoàn toàn bằng các hệ thống không người lái. Thay vì khai triển bộ binh trên mặt đất, các thiết bị mặt đất điều khiển từ xa đã tiến lên để rải và rà phá bom mìn, đồng thời nổ súng vào các tuyến phòng thủ của Nga, trong lúc các phi cơ không người lái giám sát, ném bom, và cảm tử cung cấp nhận thức về chiến trường và yểm trợ trên không.

 

Cuộc tấn công đã phá hủy các vị trí phòng thủ của Nga, sau đó mở đường cho bộ binh Ô Khắc Lan tiến lên và chiếm giữ vùng đất mà họ vẫn đang nắm giữ cho đến ngày nay. Không một người lính nào bị lộ diện trong cuộc tấn công ban đầu – và việc lập kế hoạch cẩn thận và giữ kỷ luật trong thông tin liên lạc có nghĩa là không một hệ thống tự hành nào bị mất do nhiễu sóng của Nga. Sự phối hợp này rất kinh ngạc. Nhưng nó vẫn do con người kiểm soát. Các phi công đóng tại các địa điểm riêng biệt theo dõi các nguồn cấp dữ liệu phim ảnh được truyền tải và sắp xếp chuỗi hành động của họ một cách thủ công, còn các hệ thống không liên lạc với nhau.

Một sự thay đổi căn bản hơn nhiều đang chờ phía trước: tự hành ngay từ lúc phóng đi. Các hệ thống này sẽ thực thi độc lập ngay từ khi bắt đầu nhiệm vụ. Đây không phải là sự tự hành của một hỏa tiễn hành trình, hay phi cơ không người lái bay theo một đường bay định sẵn đến một vị trí cố định. Tự hành từ lúc phóng có nghĩa là các hệ thống tự điều chỉnh việc thực thi nhiệm vụ của chúng trong khuôn khổ các ràng buộc do chỉ huy đặt ra: phối hợp với các thành tố khác trong đội hình, phản ứng trước các điều kiện thay đổi, và lựa chọn giữa các hành động được ủy quyền khi mất kết nối với sự kiểm soát của con người, dù con người sẽ theo dõi tiến trình của chúng và giữ lại quyền tái phân công nhiệm vụ hoặc hủy bỏ chừng nào liên lạc còn mở.

Hiện tại, tự hành từ lúc phóng chỉ mới tồn tại ở dạng sơ khai. Các phi cơ không người lái cá nhân được trang bị tính năng nhắm mục tiêu có sự hỗ trợ của trí tuệ/trí thông minh nhân tạo – có thể tìm và tấn công mục tiêu mà không cần người vận hành điều khiển liên tục – với số lượng lên tới hàng ngàn trong số hàng triệu hệ thống điều khiển từ xa. Nhưng theo thời gian, những cỗ máy như vậy sẽ không hoạt động như những đơn vị độc lập. Thay vào đó, các chỉ huy sẽ tập hợp chúng thành các đội hình – các hệ thống trên không, trên mặt đất và trên biển bao gồm phi cơ không người lái, cảm biến, và các yếu tố nhắm mục tiêu nhằm chỉ đạo và điều phối việc di chuyển cũng như tấn công. Các đội hình này sẽ thực thi ý định của chỉ huy và các hướng dẫn được lập trình sẵn ngay cả khi bị ngắt kết nối.

 

LÀN SÓNG MÁY MÓC

Các quân đội trên toàn thế giới hiện đều biết rằng họ cần sản xuất nhiều phi cơ không người lái hơn. Nhưng họ có nguy cơ bỏ lỡ một điểm quan trọng hơn. Lợi thế trong kỷ nguyên sắp tới sẽ không thuộc về bên tập hợp được đội hình hệ thống không người lái lớn nhất. Nó sẽ thuộc về bên đầu tiên phát triển được các khái niệm tác chiến để sử dụng chúng – và sau đó thiết kế lại các hệ thống chỉ huy và kiểm soát, các tổ chức, cũng như việc huấn luyện và vận hành cho phù hợp. Công nghệ đang đến. Nhưng những ý tưởng lớn, những khái niệm nền tảng, phải đến trước.

Đội hình tự hành – cho dù nó tương đương với một hệ thống tự hành quy mô cấp trung đội hay cấp tiểu đoàn – sẽ tích hợp các hệ thống trên không, trên bộ, và trên biển với các cảm biến, võ khí, tính cơ động, và sự bảo vệ. Những đội hình như vậy không chỉ có thể thực thi ý định của chỉ huy từ xa và có thể là ngoài tầm liên lạc, mà chúng còn phối hợp với nhau ở tốc độ của máy móc. Điều này sẽ thay đổi toàn bộ nhịp độ của các trận chiến truyền thống và cho phép các quân đội xác định và khai thác các cơ hội chiến thuật chớp nhoáng nhanh hơn mức độ phản ứng của đối phương – ngay cả khi đối phương cũng khai triển các hệ thống điều khiển từ xa. 

Hãy xem xét các lợi thế: một quân đội sở hữu các hệ thống đồng bộ như vậy – và khai triển chúng một cách cẩn thận và hiệu quả – có thể rút ngắn thời gian mà các sĩ quan tham mưu thường cần để trình bày chi tiết các kế hoạch tấn công cho các chỉ huy, thời gian để các chỉ huy thảo luận rồi ban hành mệnh lệnh cho cấp dưới, và thời gian để cấp dưới chuyển tiếp mệnh lệnh cho các phi công hoặc nhân sự vận hành đang điều khiển hệ thống từ xa. Trong các cuộc xung đột thông thường có quy mô lớn và cường độ cao – kiểu xung đột hiện đang diễn ra ở Ô Khắc Lan – các đội hình tự hành phải có năng lực duy trì đà tấn công ngay cả khi hệ thống gây nhiễu điện tử cắt đứt các liên kết liên lạc.

Các đội hình tự hành cũng sẽ làm biến đổi cả chiến tranh phi quy ước (chẳng hạn như các chiến dịch chống nổi dậy ở Sahel hoặc Gaza), các hoạt động bình ổn (duy trì trật tự trong môi trường hậu xung đột), và cạnh tranh vùng xám (chẳng hạn như áp lực trên biển mà Bắc Kinh đang gây ra ở Biển Đông). Trong những kịch bản này, năng lực tự hành sẽ cho phép các hoạt động tình báo, giám sát, và trinh sát bền bỉ hơn rất nhiều, ví dụ, bằng cách cho phép giám sát các dải lãnh thổ rộng lớn xuyên suốt ngày đêm khi các cảm biến tự động phát hiện những chuyển động bất thường hoặc sự thay đổi về mô hình – những nhiệm vụ mà ngày nay đòi hỏi các ca trực luân phiên của các nhân viên phân tách để theo dõi các nguồn cấp dữ liệu qua hình ảnh. Các hệ thống tự hành cũng tăng cường khả năng bảo vệ lực lượng và tấn công chính xác bằng cách liên tục bảo vệ nhân sự và thu hẹp thời gian giữa việc xác định mục tiêu và tấn công mục tiêu.

 

Tuy nhiên, đặc biệt là trong các cuộc chiến thông thường có quy mô lớn và cường độ cao, như cuộc chiến đang diễn ra ở Ô Khắc Lan, chu kỳ ra quyết định được rút ngắn, mà năng lực tự hành mang lại, sẽ làm thay đổi cách các chỉ huy điều phối các chiến dịch. Việc phân công nhiệm vụ và chuẩn bị phương thức khi liên lạc bị gián đoạn sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Những đội hình như vậy hoạt động trong các ranh giới thiết lập sẵn sẽ duy trì đà tấn công ngay cả khi tác chiến điện tử cắt đứt liên kết trên toàn bộ khu vực. Bên nào làm chủ được điều này và có đủ hệ thống không người lái sẽ giành chiến thắng.

 

Trong khi đó, bất kỳ quân đội nào cố gắng duy trì quyền kiểm soát của con người đối với nhịp độ trận chiến sẽ phải đối mặt với một điểm yếu nghiêm trọng. Các quân đội sẽ phải quyết định trước những lựa chọn nào phải nằm dưới sự kiểm soát của con người và những lựa chọn nào có thể được giao cho máy móc – và bảo đảm rằng việc thực thi tự hành phù hợp với ý định của chỉ huy khi các chiến dịch diễn ra nhanh hơn mức độ can thiệp của các cá nhân. Cuối cùng, người chiến thắng sẽ không phải là bên có nhiều phi cơ không người lái nhất, mà là bên giải quyết tốt nhất vấn đề thiết kế hệ thống chỉ huy (và tất nhiên, vẫn có rất nhiều hệ thống không người lái). Chắc chắn, nhất định con người nên giữ lại những đánh giá quan trọng, bao gồm khi nào nên tấn công, cách thức tương tác với thường dân, và liệu một cuộc tấn công có phục vụ hay làm suy yếu các mục tiêu chánh trị hay không. Đặc biệt, ở các nền dân chủ, những quyết định này sẽ cần phải được giữ lại cho con người theo cách không thể thay thế trong mọi loại hình xung đột.

 

SỰ THAY ĐỔI TRẠNG THÁI

Để làm được điều này, các chỉ huy sẽ phải chuyển trọng tâm từ việc điều khiển các hệ thống nơi chiến trường sang việc lập trình sẵn cho hệ thông. Thay vì dựa vào các phi công hoặc nhân sự điều khiển từ xa từng hệ thống riêng lẻ, hoặc phê duyệt từng cuộc tấn công trong thời gian thực, họ sẽ phải chuyển đổi ý định của mình thành các thuật ngữ đủ chính xác để máy móc thực thi – chỉ định rõ không chỉ thế nào là thành công, mà còn chính xác là loại hành động nào được phép, hành động nào bị cấm, và hệ thống nên làm gì khi gặp phải các điều kiện mà chỉ huy chưa lường trước. Họ cũng phải xác định các điều kiện cần được đáp ứng trước khi các hệ thống tự hành có thể thực hiện các hành động động học hoặc phi động học: ví dụ, một chỉ huy có thể ủy quyền cho các hệ thống tự hành tấn công các chiến xa bọc thép của đối phương di chuyển trong một hành lang xác định, nhưng yêu cầu có sự xác nhận của con người trước khi giao chiến với bất kỳ mục tiêu nào trong phạm vi 500 mét quanh một bệnh viện hoặc trường học. Họ cũng phải thiết lập ràng buộc trong các thuật toán dẫn đường cho hệ thống – bao gồm ranh giới địa lý của nhiệm vụ, giới hạn thời gian, mục tiêu, các hành động bị cấm, và tình huống nào hủy bỏ. Họ phải lập kế hoạch cho tình huống mất liên lạc với các hệ thống. Và sau khi một nhiệm vụ bắt đầu, họ phải theo dõi tiến trình của hệ thống và, khi liên lạc cho phép, thì tái phân công hoặc hủy bỏ.

Theo nghĩa rộng, quá trình này giống với cách thức truyền thống mà các chỉ huy giao nhiệm vụ cho những cấp dưới đáng tin cậy. Nhưng xét đến việc những cấp dưới mới của họ sẽ là các hệ thống phần mềm hoạt động ở tốc độ cao hơn rất nhiều và có rủi ro xảy ra tình huống bị mất liên lạc, điều này sẽ đòi hỏi phải lập kế hoạch trước khắt khe hơn rất nhiều. Các mục tiêu và giới hạn hành động của hệ thống tự hành phải được thiết kế một cách rõ ràng. Và các cấu trúc an toàn dự phòng phải được lập trình sẵn, chứ không thể chỉ là giả định.

 

Tất nhiên, tốc độ mà không có sự quản lý thỏa đáng có thể dẫn đến những sai sót và sự leo thang ngoài ý muốn. Nếu hệ thống tự hành của một bên giao chiến với các mục tiêu ở tốc độ của máy móc, hệ thống phòng thủ tự hành của đối phương cũng có thể đáp trả tương tự, và chỉ trong vài phút, cả hai bên có thể thấy mình đang ở trong một cuộc giao tranh leo thang mà không có vị chỉ huy con người nào dự định hoặc cho phép. Tính hợp pháp của một chiến dịch sẽ vẫn phải tập trung vào con người một cách không thể thay thế. Không một thuật toán nào có thể đánh giá một cách chủ quan liệu một cuộc tấn công sẽ phục vụ các mục tiêu chiến lược, hay tạo ra nhiều kẻ thù hơn số bị loại khỏi vòng chiến đấu. Các chỉ huy sẽ phải duy trì quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm đối với các quyết định này ngay cả khi họ giao phó việc thực thi chiến thuật cho các hệ thống tự hành.

 

Sự chỉ huy của con người sẽ không bao giờ biến mất. Nhưng việc thực thi – cảm nhận, nhắm mục tiêu, chỉ đạo di chuyển, thời gian, và tấn công – sẽ chuyển sang các cỗ máy được điều khiển bằng thuật toán mà con người lập trình nhưng không trực tiếp điều khiển liên tục. Do đó, cuộc tranh đấu trung tâm sẽ diễn ra giữa các lực lượng xem sự tự hành như một công cụ – với nhiều cỗ máy điều khiển từ xa làm những việc tương tự như võ khí và lực lượng thông thường đã từng làm, nhưng nhanh hơn – và những lực lượng xem nó như một phương thức thiết kế hệ thống chỉ huy đòi hỏi các khái niệm mới, học thuyết mới, cấu trúc tổ chức mới, và hệ thống đào tạo chỉ huy cũng như huấn luyện khác biệt căn bản, cùng với máy móc và phần mềm (nhu liệu) mang tính cách tân.

 

NHỮNG RỦI RO CỦA CHẾ ĐỘ TỰ HÀNH

Lịch sử liên tục chỉ ra rằng việc không xác định và thực thi đúng các ý tưởng lớn – hay sách lược đúng đắn – khi bản chất của chiến tranh thay đổi sẽ khiến người ta phải trả một cái giá vô cùng đắt. Ví dụ, Mỹ từng cố gắng suốt 13 năm ở Việt Nam để giành chiến thắng trong một cuộc chiến tiêu hao chống lại lực lượng nổi dậy Việt Cộng và các đơn vị miền Bắc Việt Nam trước khi nhận ra vào cuối năm 1968 rằng họ không thể giành ưu thế bằng các hoạt động tìm-và-diệt quy mô lớn, nên đã chuyển sang chiến dịch chống nổi dậy tập trung vào an ninh của nhân dân. Tuy nhiên, sự điều chỉnh đã đến quá muộn, vì sự ủng hộ trong nước đối với việc tiếp tục cuộc chiến đã không còn. Bốn mươi năm sau, quân đội Mỹ mất thêm 8 năm ở A Phú Hãn để phát triển một chiến dịch chống nổi dậy kết hợp quân-dân sự toàn diện hoạt động hiệu quả. Sau đó, họ lại mất thêm một năm nữa để có được những thành tố đầu vào phù hợp nhằm thực thi sách lược mới. Và chưa đầy một năm sau, một đợt rút quân (được công bố trong cùng bài phát biểu trình bày chi tiết về việc củng cố lực lượng) đã bắt đầu, mà rốt cuộc lại dựa trên các điều kiện ở Hoa Thịnh Đốn nhiều hơn là các điều kiện trên thực địa ở A Phú Hãn.

 

Báo chí Mỹ đã dành nhiều sự chú ý cho đợt “tăng quân” trong Chiến tranh Iraq (Y Lạp Khắc) năm 2007, khi Tổng thống George W. Bush gửi thêm gần 30.000 quân đến quốc gia này. Lực lượng tăng cường này chứng tỏ tầm quan trọng to lớn trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện một cách thức mới. Nhưng điều chỉnh quan trọng nhất là sự thay đổi trong chiến lược từ “quét sạch và rời đi” sang “quét sạch, nắm giữ, và xây dựng” – một sự chuyển đổi bao gồm việc sống cùng người dân Y Lạp Khắc sau khi quét sạch những phần tử cực đoan khỏi khu phố của họ, đồng thời thiết lập các cộng đồng khép kín với các bức tường bao, các điểm kiểm soát ra vào và thẻ căn cước sinh trắc học để ngăn quân nổi dậy xâm nhập. Điều đó cùng một số “ý tưởng lớn” khác đã giúp đưa Y Lạp Khắc thoát khỏi vòng luẩn quẩn của cuộc nội chiến Sunni-Shiite và làm giảm gần 90% bạo lực trong vòng 18 tháng.

 

Gần đây hơn, Do Thái đã thực hiện các chiến dịch đáng kinh ngạc chống lại Ba Tư và lực lượng dân quân Hezbollah ở Lebanon (Lê Ba Nộn), làm suy giảm đáng kể năng lực của những kẻ thù đó và góp phần tạo điều kiện cho cuộc lật đổ ngoạn mục chế độ độc tài giết người của Bashar al-Assad ở Syria (Tư Lợi Á). Và hiện tại, khi phối hợp hoạt động cùng lực lượng Mỹ, nước này đang tiếp tục làm suy yếu quân đội Ba Tư cũng như nhắm mục tiêu thành công vào các quan chức lãnh đạo hàng đầu, cùng với kho hỏa tiễn và năng lực khai triển phi cơ không người lái của Ba Tư. Nhưng vào tháng 10/2023, Thủ tướng Do Thái, Benjamin Netanyahu, đã đặt ra ba mục tiêu chính cho các chiến dịch của đất nước mình tại Gaza: đưa các con tin trở về, tiêu diệt lực lượng quân sự Hamas, và ngăn chặn nhóm chiến binh này kiểm soát cuộc sống của người dân Gaza. Dù nỗ lực giải cứu con tin là một thành công rất quan trọng, nhưng Do Thái vẫn đang chật vật đi tìm cách tiếp cận đúng đắn đối với hai mục tiêu còn lại và hoạt động quân sự vẫn tiếp diễn mà không có một con đường rõ ràng dẫn đến kết quả mong muốn.

 

Ở thời điểm hiện tại, có một điều rõ ràng là Mỹ hay các đồng minh của họ ở Âu châu và khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang không phát triển các khái niệm cho các hoạt động tự hành quy mô lớn, hoặc thậm chí là các hoạt động bán tự hành có sự giám sát của con người nhưng sẽ mặc định chuyển sang các nhiệm vụ được lập trình sẵn khi các liên kết liên lạc bị suy giảm. Việc không hiểu đúng về các ý tưởng lớn xoay quanh sự chuyển đổi tự hành sẽ là một thảm họa đối với lợi thế của quân đội Mỹ. Sáng kiến Replicator của Ngũ Giác Đài hứa hẹn sẽ khai triển hàng ngàn hệ thống tự hành ngay từ giữa năm 2025, nhưng chỉ cung cấp được hàng trăm chiếc – và ngay cả chương trình đó cũng chỉ tập trung vào mua sắm máy móc, chứ không phải các khái niệm nền tảng về cách các đội hình tự hành sẽ thực sự chiến đấu như thế nào. Hiện vẫn chưa có học thuyết liên quân nào dành cho các đội hình tự hành. Không một bộ tư lệnh lớn nào được giao nhiệm vụ phát triển học thuyết đó. Không một lực lượng hệ thống không người lái mới nào được thành lập. Về căn bản, quân đội Mỹ đang mua thêm phi cơ không người lái mà không cân nhắc một cách thỏa đáng về việc các lực lượng tự hành phối hợp nên được cấu trúc, điều phối, chỉ huy, và kiểm soát như thế nào.

 

Thất bại này có thể trở thành một sự thiếu sót làm tê liệt sức mạnh nếu các lực lượng Mỹ hoặc đồng minh phải đối mặt với một phép thử giống như ở Ô Khắc Lan. Ô Khắc Lan đã thích ứng nhanh chóng với các hệ thống không người lái được điều khiển từ xa vì họ không có sự lựa chọn nào khác: họ đang chiến đấu vì sự sống còn của quốc gia, đồng thời có chuỗi cung ứng ngắn, một văn hóa tổ chức phẳng khuyến khích sự chủ động, và các kỹ sư làm việc trực tiếp cùng với các đơn vị chiến đấu trên tiền tuyến. Quân đội Mỹ hoạt động trong những điều kiện hoàn toàn khác: họ có chu kỳ mua sắm kéo dài nhiều năm, mốc thời gian xem xét học thuyết được tính bằng năm, và một văn hóa thể chế tách biệt việc phát triển công nghệ khỏi bộ phận chỉ huy tác chiến. Ô Khắc Lan cập nhật phần mềm (nhu liệu) bay không người lái hai tuần một lần và cập nhật phần cứng (thiết bị) vài tuần một lần, còn chu kỳ sửa đổi học thuyết của NATO mất từ 15 đến 20 tháng. Trong một cuộc xung đột leo thang nhanh chóng, đơn giản là ta không có thời gian để vừa làm vừa học.

 

NGỦ QUÊN LÀ THẤT BẠI

Mỹ cũng chưa sản xuất được số lượng hệ thống không người lái và mạng lưới từ xa mà một cuộc xung đột như của Ô  Khắc Lan đòi hỏi, cũng như số lượng hỏa tiễn đánh chặn và hệ thống chống phi cơ không người lái cần thiết cho các cuộc xung đột lớn hơn như cuộc xung đột đang diễn ra ở Trung Đông. Nhưng dù sự thiếu hụt cơ sở công nghiệp này đã nhận được nhiều sự chú ý, quân đội Mỹ trước tiên phải phát triển các khái niệm hoạt động và khái niệm chiến thuật vững chắc cho chiến tranh tự hành trước khi triển khai các hệ thống này ở quy mô lớn. Họ phải hệ thống hóa những khái niệm này thành học thuyết định hướng cho các chiến dịch trong tương lai. Họ phải thiết kế lại các cấu trúc tổ chức để thực thi các khái niệm mới – chẳng hạn bằng cách tạo ra các đơn vị chuyên trách được xây dựng từ đầu xoay quanh việc giải quyết những thách thức của các đội nhóm người-máy, thay vì đưa thêm các hệ thống tự hành vào các tổ chức vốn được thiết kế cho con người vận hành. Họ phải giáo dục các viên chức lãnh đạo quân sự ở mọi cấp độ về cách chỉ huy các cấp dưới được lập trình và xác định bằng phần mềm. Họ phải huấn luyện các đơn vị để thực hiện các hoạt động tự hành, kể cả khi thông tin liên lạc với các hệ thống đã bị suy giảm. Và họ phải mua sắm các loại thiết bị, phần mềm (như liệu) cần thiết, mở rộng quy mô sản xuất một cách mạnh mẽ, cũng như tiến hành các thử nghiệm nghiêm ngặt để đưa các bài học kinh nghiệm vào tiến trình phát triển khái niệm.

 

Và quân đội phải làm tất cả những điều này trước khi các đối thủ tiềm năng của họ bắt kịp. Trung Quốc đã và đang đầu tư mạnh vào thứ mà họ gọi là “chiến tranh thông minh hóa,” trong đó tích hợp toàn bộ trí tuệ/trí thông minh nhân tạo vào hệ thống chỉ huy, nhắm mục tiêu, và phối hợp lực lượng. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cũng đã công bố học thuyết về việc tấn công các hệ thống AI của đối phương thông qua việc làm sai lệch dữ liệu, phá vỡ thuật toán và tác chiến điện tử. Trong khi đó, Nga đang học hỏi qua những phép thử và sai sót tàn khốc ở Ô Khắc Lan, lặp lại các quy trình nhanh hơn bất kỳ thể chế Tây phương nào (dù không có một khuôn khổ học thuyết nhất quán). Cả hai đối thủ cạnh tranh đều sẽ không chờ đợi Mỹ hoàn tất quá trình chuyển đổi của riêng mình.

 

Tất cả những dự án này thường mất một khoảng thời gian đáng kể. Các quy trình thích ứng thể chế của quân đội Mỹ được thiết kế cho một thời kỳ mà các nền tảng có thể tồn tại suốt hàng thập niên và học thuyết tiến hóa chậm rãi giữa các cuộc chiến lớn. Việc sửa đổi học thuyết quân sự cốt lõi của Ngũ Giác Đài thường đòi hỏi tối thiểu 15 tháng, nhưng nó thường mất nhiều thời gian hơn thế. (Ngoại lệ là Sổ tay Chống nổi dậy của Lục quân và Thủy quân Lục chiến năm 2006, được xuất bản 10 tháng sau khi bắt đầu soạn thảo). Tiến trình chuyển đổi sách lược toàn diện – từ khái niệm đến năng lực được xác nhận và khai triển trên thực tế – thường mất nhiều năm.

 

Tiến trình này phải được đẩy nhanh. Các đơn vị bay không người lái của Ô Khắc Lan hiện đã có thể cập nhật phần mềm (nhu liệu), chiến thuật, và thiết bị một cách liên tục. Rất nhanh thôi, một kỹ thuật hiệu quả vào thứ Hai có thể trở nên lỗi thời vào thứ Sáu. Vấn đề là hệ thống mua sắm của quân đội Mỹ không thể theo kịp những nhu cầu mới. Việc phát triển học thuyết có thể được đẩy nhanh bằng cách cho phép các chỉ huy chiến trường công bố hướng dẫn hoạt động tạm thời – những khái niệm dự kiến mà các đơn vị có thể thử nghiệm và tinh chỉnh – mà không cần phải chờ đợi chu kỳ xuất bản học thuyết liên quân đầy đủ. Hoạt động giáo dục các viên chức lãnh đạo có thể được cải cách bằng cách lồng ghép các hoạt động tự hành vào các trò chơi chiến tranh và bài tập diễn tập hiện có tại các ban tham mưu và học viện chiến tranh của các quân chủng, thay vì tạo ra các chương trình riêng biệt từ con số không. Và vòng lặp phản hồi giữa việc thử nghiệm trên thực địa và học thuyết có thể được rút ngắn bằng cách bố trí các nhà phát triển khái niệm làm việc cùng với các đơn vị tác chiến, như Ô Khắc Lan đã làm với các nhóm cách tân phi cơ không người lái của mình, thay vì chuyển các bài học kinh nghiệm qua trụ sở chính vài tháng sau khi sự việc đã diễn ra.

 

Vấn đề sâu xa nhứt nằm ở giáo dục. Các thể chế đào tạo quân nhân Mỹ và đồng minh vẫn chưa tìm cách phát triển một cách có hệ thống các kỹ năng để chỉ huy các hệ thống tự hành. Họ sẽ phải rèn luyện ra một thế hệ chỉ huy mới thành thạo trong việc lập trình các thuật toán (hoặc chỉ đạo các lập trình viên) để thực hiện các mục tiêu chiến dịch; quản lý tình  huống suy giảm thông tin liên lạc; hiểu cách các hệ thống tự hành hoạt động khi cảm biến gặp trục trặc, hoặc, khi hoàn cảnh vượt ra ngoài các điều kiện đã được lập trình sẵn; và đối đãi với các kỹ sư phần mềm, các chuyên gia khoa học dữ liệu, và các chuyên gia tác chiến điện tử như những nhân viên thiết yếu. Hệ thống thăng tiến và bổ nhiệm phải được thiết kế lại để xác định và đề bạt những sĩ quan có thể chỉ huy bằng các cấp dưới phần mềm, chứ không chỉ những người xuất sắc trong công tác tham mưu và chỉ huy truyền thống. Quân đội đề bạt những gì họ xem trọng; nếu họ xem trọng năng lực tự hành, họ phải đánh giá và trao thưởng cho năng lực đó.

 

Các hệ thống tự hành hiện đã được khai triển rộng rãi trong chiến đấu. Một tương lai mà ở đó chúng hoạt động như những đội hình hoàn chỉnh rồi sẽ sớm xuất hiện. Nếu Hoa Thịnh Đốn nhận ra những thay đổi mà họ cần thực hiện ngay bây giờ, các đội hình tự hành sẽ mở ra một thực tế hoạt động mới: sự thực thi theo nhịp độ máy móc đồng bộ và phối hợp, trong đó các chỉ huy ủy quyền cho các thuật toán được giới hạn cẩn thận và lập trình sẵn nhằm đồng bộ hóa các cảm biến và võ khí thành các đội hình cơ động độc lập, trong lúc các chỉ huy vẫn chịu trách nhiệm đối với ý định, các giới hạn, và trách nhiệm giải trình. Nếu Hoa Thịnh Đốn không nắm bắt được những rủi ro này, họ sẽ khai triển các hệ thống không người lái ngày càng có năng lực (dù có thể là không đủ số lượng) mà không có bất kỳ khái niệm, học thuyết, tổ chức, và những viên chức lãnh đạo được đào tạo bài bản để xử dụng chúng một cách hiệu quả. Họ sẽ chỉ có những món đồ chơi tự hành thay vì chiến tranh tự hành. Và họ sẽ thua trước những đối thủ giải quyết được vấn đề thiết kế hệ thống chỉ huy trước tiên.

 

David Petraeus là Đối tác tại công ty đầu tư KKR và Nghiên cứu viên của Trường Jackson thuộc Đại học Yale. Trong giai đoạn 2007-2011, ông đã giữ các vị trí lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ, bao gồm cả việc chỉ huy đợt tăng quân ở Y Lạp Khắc (Iraq). Từ năm 2011 đến 2012, ông là Giám đốc CIA. Ông là đồng tác giả cuốn “Conflict: The Evolution of Warfare from 1945 to Gaza.”

 

Isaac C. Flanagan là Đồng sáng lập viên của Zero Line, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên làm việc với các đối tác quốc tế nhằm xác định những nhu cầu cấp thiết trong lĩnh vực quốc phòng của Ô Khắc Lan.

 

Tất cả các tuyên bố về sự thật, ý kiến, hoặc phân tách trong bài viết này đều là của các tác giả và không phản ánh quan điểm hay lập trường chính thức của chánh phủ Mỹ. Không có nội dung nào trong đây được hiểu là khẳng định hoặc ngụ ý chánh phủ Mỹ nhằm xác thực thông tin hoặc chứng thực quan điểm của các tác giả.

 

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận