
Nguồn: Moritz S. Graefrath và Mark A. Raymond, “America’s Allies Should Go Nuclear,” Foreign Affairs, 19/11/2025
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng (nghiencuuquocte.org)
Phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc sẽ củng cố trật tự toàn cầu, chứ không phải chấm dứt nó.
Có lẽ ít có tình huống nào khiến các chuyên gia và cơ quanhoạch định chánh sách lo ngại bằng viễn cảnh phổ biến võ khí nguyên tử. Việc Nga sẵn sàng đe dọa khai triển võ khí nguyên tử chiến thuật trong cuộc chiến chống lại Ukraine, mối quan tâm mơ hồ của Tổng thống Mỹ Donald Trump đối với việc thử nghiệm nguyên tử, và việc Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược Mới (START, nhằm hạn chế quy mô kho võ khí nguyên tử của Nga và Mỹ) năm 2010 sắp hết hạn đã nhắc nhở thế giới về tiềm năng hủy diệt lâu dài của võ khí nguyên tử và làm dấy lên nỗi sợ đối với việc xử dụng chúng. Các viên chức lãnh đạo Mỹ tin rằng việc phổ biến võ khí nguyên tử sẽ gây tổn hại sâu sắc đến lợi ích sách lược của nước này và làm mất ổn định hơn nữa trật tự toàn cầu vốn đã mong manh. Trong những tháng cuối năm 2025, họ đã đẩy mạnh cam kết ngăn chặn phổ biến võ khí nguyên tử, và các cuộc không kích vào các địa điểm có lò phản ứng phân hạch nguyên tử ở Iran vào tháng 6/2025 cho thấy Washington sẽ xử dụng võ lực để ngăn chặn nhiều quốc gia sở hữu võ khí nguyên tử hơn nữa.
Suốt hàng thập niên, Mỹ đã đầu tư vào một trật tự nguyên tử được xây dựng xoay quanh việc không phổ biến vũ khí, ngay cả khi các thỏa thuận giải trừ quân bị thời Chiến tranh Lạnh như Hiệp ước Chống Tên lửa Đạn đạo hết hạn. Việc phản đối phổ biến võ khí nguyên tử ở các quốc gia và đối thủ không đáng tin cậy là hợp lý, nhưng phản đối phổ biến vũ khí một cách toàn diện sẽ che khuất những lợi ích đáng kể mà nó có thể mang lại. Sẽ tốt hơn nếu Mỹ xem xét lại việc tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu không phổ biến võ khí nguyên tử và khuyến khích một nhóm nhỏ các đồng minh – cụ thể là Gia Nã Đại, Đức, và Nhựt Bổn – sở hữu vũ khí. Đối với Washington, việc phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc sẽ cho phép các đối tác này đảm nhận vai trò lớn hơn trong phòng thủ khu vực và giảm sự phụ thuộc quân sự của họ vào Mỹ. Về phần các đồng minh, việc sở hữu võ khí nguyên tử mang lại sự bảo vệ đáng tin cậy nhất chống lại mối đe dọa từ các kẻ thù trong khu vực, như Trung Quốc và Nga, đồng thời giúp phòng vệ tốt hơn khi Mỹ ngày càng ít cam kết với các liên minh truyền thống.
Những người hoài nghi và bi quan về nguyên tử có thể e ngại ý tưởng về một thế giới với nhiều cường quốc sở hữu võ khí nguyên tử hơn, nhưng những quan ngại này sẽ ít có cơ sở hơn khi việc phổ biến võ khí nguyên tử được theo đuổi một cách có chọn lọc. Gia Nã Đại, Đức, và Nhựt Bổn đã chứng minh được thành tích hoạch định chánh sách hợp lý và ổn định nội bộ, nghĩa là các tai nạn phóng xạ nguyên tử và các vòng xoáy leo thang không kiểm soát đều khó xảy ra. Và, nếu được quản lý cẩn thận, thì có nhiều lý do để tin rằng việc phổ biến võ khí nguyên tử ở những quốc gia này sẽ không dẫn đến những nỗ lực sâu rộng hơn ở các nước khác nhằm phát triển bom nguyên tử của riêng họ.
Thay vì mở ra một kỷ nguyên bất ổn toàn cầu mới đáng sợ, phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc sẽ giúp duy trì trật tự hậu Thế chiến II. Nếu Gia Nã Đại, Đức, và Nhựt Bổn sở hữu võ khí nguyên tử, họ sẽ tái cân bằng năng lực quân sự toàn cầu theo hướng có lợi cho một liên minh các quốc gia cam kết tuân thủ hệ thống dựa trên luật lệ và ngăn chặn sự xói mòn các chuẩn mực cốt lõi của hệ thống này, đặc biệt là toàn vẹn lãnh thổ. Do đó, phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc giúp khôi phục lại trật tự hậu năm 1945 đang gặp nguy hiểm, thứ đã mang lại lợi ích to lớn cho Mỹ và các đồng minh.
ĐÔI BÊN CÙNG CÓ LỢI
Các viên chức cấp cao của Mỹ đã nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển gánh nặng phòng thủ lục địa sang cho các đồng minh Âu châu và giảm bớt sự phụ thuộc quân sự của họ vào Mỹ. Đối mặt với thách thức địa chánh trị từ một Trung Quốc đang trỗi dậy ở Đông Á và đang cần có nguồn lực để giải quyết các vấn đề trong nước, Washington đã xem việc chấm dứt tình trạng Âu châu “ăn không ngồi rồi” là ưu tiên sách lược hàng đầu. Điều cản trở năng lực tự bảo đảm an ninh của Âu châu ngày nay – và theo đó ngăn cản sự rút lui mạnh mẽ của Mỹ – chính là sự thiếu hụt lực lượng nguyên tử của Đức. Xuyên suốt Chiến tranh Lạnh, các viên chức lãnh đạo Mỹ từng hy vọng rút quân đội khỏi Âu châu, nhưng họ cho rằng nếu Đức không có được năng lực răn đe nguyên tử, thì lục địa già sẽ không thể tự bảo đảm an ninh của mình. Như chuyên gia sử học Marc Trachtenberg lưu ý, Mỹ đã đúng khi nhận định rằng lực lượng nguyên tử của Anh và Pháp “không thể mang lại mức độ bảo đảm cần thiết” để Âu châu có thể răn đe Liên Xô và kho võ khí nguyên tử khổng lồ của nước này. Ngày nay, rào cản tương tự vẫn còn đó. Việc khuyến khích Đức phát triển võ khí nguyên tử của riêng mình cuối cùng sẽ tạo ra một Âu châu tự cung tự cấp, cho phép Mỹ rút lui.
Các viên chức lãnh đạo và công chúng Đức thừa nhận rằng sự phụ thuộc về quân sự vào Mỹ khiến đất nước họ dễ bị tổn thương trước những ý thích bất chợt của Washington. Ngay sau khi đắc cử vào tháng 02/2025, Thủ tướng Friedrich Merz tuyên bố rằng đã đến lúc “đạt được độc lập” khỏi Mỹ, và kể từ đó tới nay, ông trở thành người ủng hộ mạnh mẽ việc tái vũ trang đáng kể. Nhưng cần nhiều thời gian để xây dựng năng lực quân sự thông thường của Đức, và Berlin vẫn thiếu một tầm nhìn rõ ràng về cách thức đạt được mục tiêu chi tiêu quốc phòng đầy tham vọng là 5% GDP mà Merz và các viên chức lãnh đạo châu Âu khác đã đồng ý tại hội nghị thượng đỉnh NATO hồi tháng 6/2025. Các cam kết hiện tại của Đức đối với việc cung cấp vật tư chiến tranh cho Ukraine và sự miễn cưỡng của người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự đang cản trở việc tăng cường sức mạnh quân sự thông thường nhanh chóng. Việc phát triển một lực lượng nguyên tử độc lập sẽ bảo vệ Đức trước rủi ro Mỹ đột ngột rút khỏi Âu châu, đồng thời mang lại một con đường khả thi và có ý nghĩa để thực hiện cam kết 5%.
Trong khi đó, việc phổ biến võ khí nguyên tử ở Nhựt Bổn sẽ góp phần đáng kể vào việc đạt được mục tiêu chính của Mỹ ở Đông Á, cụ thể là kiềm chế Trung Quốc thông qua các liên minh địa phương vững mạnh. Từ góc nhìn của Washington, mối đe dọa chính từ Bắc Kinh là họ có thể thống trị khu vực và phát triển tiềm lực quân sự để đe dọa nghiêm trọng Mỹ và lợi ích của Mỹ, chẳng hạn bằng cách phá vỡ chuỗi cung ứng chất bán dẫn hoặc thiết lập các căn cứ tiền phương ngoài lãnh thổ của họ ở Đông Á và thậm chí xa hơn. Việc Trung Quốc trở thành bá quyền khu vực sẽ đặt ra thách thức lớn đối với Mỹ.
Nhựt Bổn vốn đã được hưởng lợi thế phòng thủ từ việc là một quốc gia quần đảo, tách biệt với các đối thủ của mình nhờ biển cả. Khi kết hợp với năng lực nguyên tử độc lập, lợi thế này sẽ thực sự bảo đảm an ninh cho Nhựt Bổn trước các mối đe dọa từ bên ngoài – và bảo đảm rằng Nhựt Bổn sẽ không bị Trung Quốc kiểm soát. Không chỉ tự vệ tốt hơn, một Nhựt Bổn sở hữu võ khí nguyên tử sẽ mang lại hình thức răn đe mở rộng đáng tin cậy và tức thời hơn đối với Đông Á so với những gì Mỹ có thể mang lại. Trung Quốc có thể nghi ngờ việc Washington sẵn sàng mạo hiểm chiến tranh nguyên tử vì những diễn biến ở Đông Á, nhưng vị trí địa lý gần gũi và lợi ích trực tiếp của Nhựt Bổn đối với ổn định khu vực khiến các cam kết của họ trở nên đáng tin cậy hơn nhiều.
Một Nhựt Bổn sở hữu võ khí nguyên tử cũng sẽ tạo thêm một lớp bảo vệ trong các tình huống giả định leo thang khủng hoảng, cho phép phản ứng hiệu quả trước sự xâm lược của Trung Quốc mà không cần trực tiếp lôi kéo Mỹ vào cuộc. Khi cân nhắc một cuộc tấn công vào Nhựt Bổn, Trung Quốc sẽ buộc phải cân nhắc đến cái giá khổng lồ khi Nhựt Bổn trả đũa, bất kể có hay không có hỗ trợ tăng cường từ Mỹ. Việc sở hữu võ khí nguyên tử cũng sẽ trang bị cho Nhựt Bổn, và rộng hơn là khu vực Đông Á, năng lực ứng phó với sự thay đổi đột ngột trong cam kết an ninh của Washington. Sách lược Quốc phòng Quốc gia mới nhất của chánh quyền Trump ưu tiên bảo vệ lãnh thổ Mỹ và Tây Bán cầu hơn là các mối đe dọa từ Trung Quốc và Nga, báo hiệu một sự thay đổi định hướng có thể gây chấn động.
Ở Bắc Mỹ, việc phổ biến võ khí nguyên tử ở Gia Nã Đại sẽ giúp tăng cường an ninh nội địa Mỹ. Xét đến sự hội nhập của quân đội Gia Nã Đại và Mỹ trong NATO và hệ thống phòng không song phương NORAD, hai nước sẽ cùng nhau chiến đấu trong hầu hết các tình huống phòng thủ bán cầu có thể hình dung được. Dù Gia Nã Đại không phải đối mặt với các mối đe dọa trực tiếp đối với sự toàn vẹn lãnh thổ từ Nga hay Trung Quốc, nhưng quan hệ của nước này với cả Nga và Trung Quốc đã xấu đi đáng kể trong thập niên qua. Một hệ thống răn đe nguyên tử của Gia Nã Đại làm giảm tình huống Mỹ phải bảo vệ nước láng giềng lục địa của mình, theo đó giải phóng năng lực của Mỹ và loại bỏ một con đường xâm lược địa chánh trị tiềm tàng. Sự hỗ trợ của Mỹ cho một hệ thống răn đe nguyên tử của Gia Nã Đại là lời trấn an quan trọng về cam kết của Washington đối với việc phòng thủ lục địa vào thời điểm quan hệ song phương giữa hai nước láng giềng đang căng thẳng.
Về phần Gia Nã Đại, việc sở hữu võ khí nguyên tử báo hiệu với Mỹ rằng họ cũng chấp nhận trách nhiệm chung về phòng thủ lục địa, và rằng Ottawa có thể ngăn chặn những kẻ xâm lược tiềm tàng mà không cần sự hỗ trợ của Mỹ. Như Thủ tướng Gia Nã Đại, Mark Carney, đã phát biểu hồi tháng 3/2025, “quan hệ cũ” của Gia Nã Đại với Mỹ đã “kết thúc.” Việc sở hữu võ khí nguyên tử sẽ giúp Ottawa sẵn sàng đối mặt với thế giới mới này bằng cách tái cấu trúc quan hệ đối tác lục địa và giúp họ tự lực cánh sinh. Hơn nữa, những thách thức trong việc đáp ứng mục tiêu chi tiêu 5% của NATO được cho là quan trọng đối với Gia Nã Đại hơn đối với Đức. Một năng lực răn đe nguyên tử khiêm tốn mang lại giải pháp cho thách thức này, đồng thời cũng mang lại một tài sản sách lược có ý nghĩa trong kho vũ khí của Gia Nã Đại.
Gia Nã Đại, Đức, và Nhựt Bổn đều sở hữu năng lực khoa học và công nghiệp để tự mình phát triển thành công võ khí nguyên tử. Ví dụ, vai trò của Gia Nã Đại như quốc gia cung cấp vật liệu phân hạch chính, sẽ tạo cơ sở cho nỗ lực chung nhằm hiện thực hóa những năng lực nguyên tử mới này. Điều mà ba đồng minh cần – và điều mà Mỹ có thể và nên cung cấp – là sự ủng hộ của công chúng và sự bảo vệ ngoại giao cho tiến trình chuyển đổi trở thành các quốc gia sở hữu võ khí nguyên tử, cũng như hướng dẫn kỹ thuật và học thuyết để bảo đảm các biện pháp bảo vệ về chỉ huy và kiểm soát.
SỬA CHỮA VẤN ĐỀ NGUYÊN TỬ
Theo truyền thống, phổ biến võ khí nguyên tử được hiểu là mối đe dọa đối với sự ổn định của trật tự quốc tế. Khi các quốc gia bắt đầu sở hữu năng lực nguyên tử, cán cân quyền lực khu vực và toàn cầu sẽ thay đổi, đặt ra câu hỏi về các thỏa thuận an ninh hiện có. Theo lập luận này, một quốc gia có năng lực răn đe nguyên tử có thể hành xử hung hăng vì giờ đây họ đã được bảo vệ khỏi những nỗ lực kiềm chế. Quan điểm thông thường này là sai lầm – hoặc chí ít cũng quá đơn giản – vì nó cho rằng tất cả các quốc gia sở hữu võ khí nguyên tử đều hành xử theo cùng một cách. Khi các quốc gia cam kết bảo vệ các quy tắc và chuẩn mực quốc tế sở hữu năng lực nguyên tử, thì trên thực tế, phổ biến võ khí nguyên tử sẽ làm tăng sự ổn định và sức mạnh của trật tự toàn cầu.
Gia Nã Đại, Đức, và Nhựt Bổn nằm trong số những quốc gia hàng đầu cam kết với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Cả ba đều định hình chánh sách đối ngoại, và thậm chí cả bản sắc quốc gia, dựa trên tinh thần công dân quốc tế tốt đẹp. Việc phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc ở các quốc gia này sẽ tái cân bằng năng lực quân sự và tạo ra một liên minh thống nhất các cường quốc nguyên tử cam kết ngăn chặn những thế lực xét lại tiềm tàng. Một liên minh như vậy giúp ngăn chặn sự xói mòn hơn nữa các quy tắc, chuẩn mực, và thể chế của trật tự hậu năm 1945, bao gồm cả chuẩn mực chống xâm lược. Bên cạnh những nguồn ổn định vật chất mà nó mang lại, việc phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc còn củng cố các nguồn ổn định mang tính chuẩn mực, vốn cần thiết cho trật tự quốc tế.
Do đó, việc phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc nên được định hình và hiểu như một khoản đầu tư vào việc phục hồi trật tự đó. Gia Nã Đại, Đức, và Nhựt Bổn sẽ góp phần lấp đầy những khoảng trống từng khiến Nga nhìn thấy những điều kiện thuận lợi hơn cho chủ nghĩa xét lại và có thể khiến Trung Quốc thực hiện những tính toán tương tự.
ĐỪNG SỢ HÃI
Nhiều trong số các quan ngại điển hình do những người phản đối phổ biến võ khí nguyên tử nêu ra không áp dụng cho việc phổ biến vũ khí có chọn lọc của các đồng minh Mỹ. Ví dụ, không có lý do gì để lo sợ rằng võ khí nguyên tử của Gia Nã Đại, Đức, hay Nhựt Bổn sẽ rơi vào tay các quốc gia bất hảo hoặc các tổ chức khủng bố, bởi cả ba đều là những hình mẫu về trách nhiệm, năng lực nhà nước, và ổn định nội bộ. Cũng không cần phải lo lắng về năng lực tư duy hợp lý của các quốc gia này. Nếu nhà lãnh đạo Bắc Hàn, Kim Jong Un, có thể thận trọng và cảnh giác đối với kho võ khí nguyên tử của mình, thì các viên chức lãnh đạo ở Ottawa, Berlin, và Tokyo hoàn toàn có thể được kỳ vọng sẽ làm điều tương tự.
Một quan ngại khác là chỉ cần một vài nước theo đuổi năng lực nguyên tử thì rất nhiều nước khác sẽ hành động tương tự. Lập luận này đơn giản là không thuyết phục. Phổ biến võ khí nguyên tử lan tỏa thường là kết quả của những cuộc cạnh tranh đã tồn tại từ trước và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi sự gần gũi về mặt địa lý, như trường hợp Pakistan theo đuổi bom nguyên tử để đáp trả quyết định sở hữu vũ khí của Ấn Độ. Phổ biến võ khí nguyên tử ở Gia Nã Đại khó có thể thúc đẩy các nước khác, chẳng hạn như Mexico, theo đuổi bom nguyên tử của riêng mình. Các quốc gia Âu châu có động lực lớn nhất để chống lại sự phổ biến võ khí nguyên tử ở Đức – Anh và Pháp – đều đã có lực lượng nguyên tử riêng. Các quốc gia có tiềm năng phổ biến võ khí nguyên tử khác, chẳng hạn như Ba Lan, có thể bị thuyết phục từ bỏ một chương trình võ khí nguyên tử độc lập bằng các thỏa thuận chia sẻ nguyên tử đa phương hoặc song phương. Ở Đông Á, việc Nhựt Bổn sở hữu võ khí nguyên tử có thể thúc đẩy Nam Hàn theo đuổi tham vọng nguyên tử bấy lâu nay của mình, nhưng việc Seoul hội nhập vào cấu trúc an ninh của Mỹ làm giảm đáng kể động lực để họ làm vậy. Lợi thế địa lý của Nhựt Bổn và việc không bị mắc kẹt trong một cuộc xung đột đóng băng (như Nam Hàn với Bắc Hàn sở hữu võ khí nguyên tử) khiến Nhựt Bổn trở thành ứng viên hấp dẫn cho việc phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc hơn so với Nam Hàn. Chắc chắn, nếu Seoul quyết định hành động và chế tạo bom nguyên tử, họ cũng sẽ là một quốc gia giám sát nguyên tử an toàn và đáng tin cậy. Dù về mặt lý thuyết, Đài Loan có thể muốn làm theo, nhưng họ không có con đường khả thi nào để hành động theo mong muốn này do vị thế địa chánh trị bấp bênh của hòn đảo đối với Trung Quốc.
Nguy cơ xảy ra tai nạn liên quan đến võ khí nguyên tử vẫn là quan ngại hợp lý. Đúng là việc phổ biến võ khí nguyên tử về mặt kỹ thuật sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra chiến tranh nguyên tử ngoài ý muốn, nhưng rủi ro này thấp đến mức có thể bị lu mờ bởi những lợi ích hữu hình đối với sự ổn định và an ninh quốc tế. Ngay cả trong thời kỳ đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh, một thời kỳ đầy rẫy những cuộc cạnh tranh sách lược và ý thức hệ căng thẳng, hai siêu cường vẫn thành công trong việc tránh được một cuộc chiến nguyên tử. Một trong những ưu điểm của việc phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc là Gia Nã Đại, Đức, và Nhựt Bổn nằm trong số những quốc gia được trang bị tốt nhất để gia tăng sự giảm thiểu rủi ro. Tất cả đều có quân đội cực kỳ chuyên nghiệp, sự kiểm soát dân sự mạnh mẽ đối với các lực lượng vũ trang, và các bộ ngoại giao rất thành thạo trong việc giải quyết xung đột bằng con đường hòa bình.
Những lập luận phản đối khác cũng không thể vượt qua kiểm chứng. Ví dụ, một số chuyên gia Mỹ đã phản đối việc phổ biến võ khí nguyên tử giữa các đồng minh của nước này với lý do rằng điều này sẽ làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ, đặc biệt là đối với Đức và Nhựt Bổn. Lập luận này đánh đồng các công cụ sách lược với các mục tiêu. Mục tiêu cơ bản của Washington ở Âu châu và Đông Á là ngăn chặn bất kỳ quốc gia đơn lẻ nào thống trị cả hai khu vực. Trong khi ảnh hưởng của Mỹ đối với các đồng minh chỉ mang lại con đường gián tiếp và không chắc chắn để ngăn chặn sự trỗi dậy của một bá chủ khu vực, thì võ khí nguyên tử ở Đức và Nhựt Bổn gần như chắc chắn sẽ bảo đảm kết quả đó. Nói cách khác, phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc sẽ hy sinh một phần ảnh hưởng của Mỹ, nhưng đổi lại, họ sẽ đạt được mục tiêu mong muốn ngay từ đầu.
Rào cản dễ hiểu nhất – và có lẽ là khó vượt qua nhất – chính là sự phản đối của công chúng đối với việc phổ biến võ khí nguyên tử. Trải nghiệm của Nhựt Bổn trong các vụ ném bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki vẫn còn in đậm trong ký ức tập thể của họ. Chủ nghĩa hòa bình sau năm 1945 và thái độ hoài nghi chung về năng lượng nguyên tử khiến nhiều người Đức phản đối một hệ thống răn đe nguyên tử độc lập. Gia Nã Đại từ lâu đã phản đối việc khai triển võ khí nguyên tử trên lãnh thổ của mình, chứ chưa nói đến việc sở hữu võ khí nguyên tử. Vượt qua những lo ngại này chắc chắn là rất khó, và các quốc gia phải thuyết phục những công dân còn hoài nghi rằng việc sở hữu võ khí nguyên tử không chỉ giúp họ an toàn hơn, mà còn giúp duy trì “sức khỏe” của trật tự dựa trên luật lệ.
TIẾN HÀNH THẬN TRỌNG
Khai triển phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc sẽ không dễ dàng và luôn có rủi ro nhất định. Điều cần cân nhắc ngay lập tức là Gia Nã Đại, Đức, và Nhựt Bổn phải rút khỏi Hiệp ước Không phổ biến võ khí nguyên tử (NPT), trong đó họ đã đồng ý không phát triển bom nguyên tử. Cam kết thực hiện đúng quy trình rút khỏi hiệp ước theo luật pháp quốc tế sẽ báo hiệu ý định của họ nhằm ổn định trật tự quốc tế và tăng cường an ninh quốc tế thay vì làm suy yếu cả hai. Trong phạm vi có thể, việc rút khỏi NPT nên được thông báo cẩn thận trước cho các đồng minh chủ chốt để giảm thiểu lo ngại. Sẽ là không thực tế khi mong đợi các quốc gia khác chấp nhận hành động rút lui, nhưng việc theo đuổi phổ biến võ khí nguyên tử một cách có trách nhiệm và minh bạch là dấu hiệu cho thiện chí của ba quốc gia này. Chính lúc này, sự hỗ trợ ngoại giao của Mỹ trở nên đặc biệt có giá trị; họ cần phối hợp với Pháp và Anh để bảo đảm rằng các quốc gia nguyên tử mới không trở thành mục tiêu của các biện pháp thực thi của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Để bảo đảm tối đa cho các quốc gia hoài nghi, ba quốc gia theo đuổi võ khí nguyên tử nên cân nhắc áp dụng chánh sách “không xử dụng võ khí nguyên tử trước,” chí ít là trong thời gian họ vẫn nằm dưới chiếc ô nguyên tử của Mỹ. Dù NATO từng không sẵn lòng cam kết với chánh sách này trong thời Chiến tranh Lạnh, nhưng Gia Nã Đại, Đức, và Nhựt Bổn đang đối mặt với những thách thức an ninh ít nghiêm trọng hơn, ít nhất là ở thời điểm hiện tại, và do đó có thể cân nhắc thực hiện bước đi này để thể hiện cam kết duy trì nguyên trạng.
Phổ biến võ khí nguyên tử có chọn lọc đòi hỏi sự quản lý cẩn thận để phát huy hết tiềm năng của nó, nhưng nó cũng mang lại cơ sở thực sự cho sự lạc quan. Lý lẽ ủng hộ nó vẫn còn gây tranh cãi như mọi khi, nhưng việc quốc gia nào sở hữu bom nguyên tử là rất quan trọng. Nếu những quốc gia nắm giữ võ khí nguyên tử là đồng minh, sở hữu chánh phủ ổn định, và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, thì việc có thêm võ khí nguyên tử quả thực có thể giúp tình hình trở nên tốt hơn.
Moritz S. Graefrath là giáo sư về An ninh Quốc tế tại Đại học Oklahoma và là nghiên cứu viên không thường trú tại Viện các vấn đề toàn cầu thuộc Eurasia Group.
Mark A. Raymond là giáo sư về Quan hệ Quốc tế tại Đại học Oklahoma và phó giám đốc Chánh sách An ninh Quốc tế tại Học Viện Cách Tân Hàng không Vũ trụ và Quốc phòng Oklahoma.
(Anh Dũng, Dân Việt News phụ đính)










