Quan hệ Mỹ – Hoa và chiếc Bẫy Thucydides thực thụ

Nguồn: Joshua Rovner, “The Real Thucydides Trap”, Foreign Affairs, 14/04/2026

 

Biên dịch: Viên Đăng Huy (nghiencuuquocte.org)

(Huy Lê phụ đính)

 

Hiếm có vấn đề nào thu hút sự chú ý của giới quan sát như sự kình địch giữa Trung Hoa và Hoa Kỳ. Các chuyên gia phân tách mổ xẻ các xu hướng chánh trị và phác họa chân dung các viên chức lãnh đạo ở cả hai nước. Các chuyên gia kinh tế học theo dõi các chỉ số về sức mạnh tài chánh và thương mại tương đối, suy ngẫm về nghịch lý của hai gã khổng lồ kinh tế vừa không tương thích vừa phụ thuộc lẫn nhau. Và các chuyên gia quân sự theo dõi cán cân lực lượng với sự lo ngại ngày càng tăng khi năng lực nguyên tử và thông thường của Trung Hoa ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng.

Dù những kịch tính thường nhật có hấp dẫn đến đâu, việc nhìn lại lịch sử có thể mang đến những cách thức mới để hiểu về quỹ đạo của quan hệ Mỹ – Hoa. Chuyên gia về khoa học chánh trị Graham Allison từng có cảnh báo nổi tiếng rằng hai nước có thể rơi vào cái mà ông gọi là “bẫy Thucydides”, dựa trên ý tưởng rằng chiến tranh dễ xảy ra khi một quốc gia đang nổi lên đe dọa soán ngôi cường quốc dẫn đầu. Ý tưởng này là sự tôn kính dành cho sử gia cổ đại Thucydides, người đã ghi chép về cuộc chiến vĩ đại và khủng khiếp giữa Athens và Sparta vào thế kỷ thứ V trước Công nguyên. Mặc dù Allison đã khơi mào một cuộc tranh luận quan trọng về việc liệu sự trỗi dậy của Trung Hoa có báo hiệu một thảm họa tương tự hay không, nhưng đánh giá của ông đã bỏ lỡ lời cảnh báo thực sự của cuộc Chiến tranh Peloponnese, bởi vì trên thực tế không có sự chuyển giao quyền lực nào đang diễn ra trước khi xung đột bắt đầu. Thay vào đó, trong thập niên dẫn đến chiến tranh, Athens và Sparta đã ổn định trong một thế cân bằng quyền lực: Athens thống trị biển cả, còn Sparta thống trị đất liền.

 

Những gì xảy ra tiếp theo là một loại bi kịch khác. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng chánh trị sâu sắc và ngoại giao đổ vỡ, cả Athens và Sparta đều hiểu bản chất lợi thế so sánh của đối thủ, nhưng cả hai vẫn ảo tưởng rằng họ có thể thắng nhanh một cuộc chiến. Khi tiếng gươm giáo vang lên và những hy vọng này lộ diện chỉ là ảo tưởng, các cường quốc thấy mình sa lầy vào một cuộc chiến kéo dài và hủy diệt. Đây mới chính là “bẫy Thucydides” thực sự.

 

Có những dấu hiệu đáng lo ngại cho thấy Trung Hoa và Hoa Kỳ đang đi theo cùng một hướng hiện nay. Giống như Sparta và Athens, Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn mỗi bên đều nắm giữ một lợi thế so sánh. Trung Hoa là cường quốc đất liền chiếm ưu thế ở Đông Á, còn Mỹ mạnh nhất trên biển. Đại lục Trung Hoa bao la là nơi trú ẩn tin cậy cho quân đội họ, và trong khi các chuyên gia phân tách tranh luận về tình huống tiến hành các chiến dịch đổ bộ hiệp đồng của Trung Hoa, không ai thực sự nghi ngờ năng lực phòng thủ trên đất liền của họ. Trong khi đó, năng lực khai triển sức mạnh hải quân của Mỹ là độc nhất; họ có thể tác chiến hiệu quả trên những khoảng cách hàng hải rộng lớn. Tuy nhiên, dù cả hai nước đều giàu có và năng lực mạnh mẽ, không bên nào có cách rõ ràng để đối phó với lực lượng nòng cốt của đối phương, vốn tập trung ở các lĩnh vực khác nhau. Và nếu Trung Hoa giữ được vị thế thống trị trên bộ hoặc Mỹ giữ được vị thế thống trị trên biển, không bên nào dễ dàng bị khuất phục đầu hàng. Về lý thuyết, thế bế tắc sách lược chưa có lời giải đó lẽ ra phải ngăn cản cả hai cường quốc khỏi các hành động thù địch trực tiếp.

 

Tuy nhiên, Trung Hoa lại mơ về một chiến thắng nhanh chóng trong một cuộc chiến vũ trang. Bắc Kinh lý luận rằng, nếu tấn công mạng lưới liên lạc tinh vi của Mỹ bằng võ khí chống vệ tinh và các chiến dịch mạng, họ có thể khiến lực lượng Mỹ bị “mù” và xử dụng hỏa tiễn đạn đạo tầm xa để nhắm vào các cơ sở của Mỹ rải rác khắp vùng biển Á châu. Những tiến bộ của Trung Hoa trong trí tuệ/ trí thông minh nhân tạo (AI) đồng nghĩa với việc các chỉ huy quân sự của họ có thể đưa ra quyết định nhanh hơn và khai triển đạn dược chính xác hơn bao giờ hết. Bắc Kinh tin rằng nhiều thập niên hiện đại hóa quân sự đã giúp họ có vị thế để giành chiến thắng nhanh chóng và quyết đoán.

Các viên chức phụ trách sách lược Mỹ cũng có kế hoạch cho một cuộc chiến ngắn ngủi và chí mạng chống lại Trung Hoa — kiểu chiến thắng chớp nhoáng mà họ hy vọng đạt được trong cuộc chiến hiện tại với Ba Tư. Học thuyết quân sự Mỹ, từ thời chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, dựa trên các cuộc tấn công gây choáng vào các nút thắt chỉ huy và kiểm soát của kẻ thù ngay khi bắt đầu đối địch. Các chiến dịch mạng sẽ làm giảm thêm năng lực tổ chức phòng thủ mạch lạc của đối phương trước các đợt tấn công tiếp theo. Trong một cuộc chiến với Trung Hoa, mục tiêu sẽ là khiến Bắc Kinh không thể kháng cự trước sự đổ bộ ồ ạt của không quân và hải quân Mỹ. Với việc Mỹ nắm quyền quyết định phạm vi và nhịp độ cuộc chiến, Trung Hoa sẽ có rất ít lựa chọn ngoài việc đầu hàng.

 

Có lẽ một mưu lược phi thường, hoặc một công nghệ mới nào đó, sẽ cho phép một bên vượt qua rào cản lợi thế cốt lõi của bên kia. Tuy nhiên, lịch sử tồi tệ của các cuộc chiến tranh cường quốc gợi mở về một tương lai bất ổn hơn. Những nhà lãnh đạo dấn thân vào chiến tranh thường nuôi dưỡng những ảo tưởng về chiến thắng nhanh chóng, một phần để đối phó với sức nặng tâm lý từ quyết định của họ. Thay vì lường trước một chiến dịch tốn kém không rõ kết cục, họ mong đợi đánh bại kẻ thù mà thậm chí không cần tấn công vào lực lượng chính của chúng. Nhưng kinh nghiệm chiến tranh chứng minh những ý tưởng đó chỉ là ảo tưởng. Những cuộc đụng độ sớm với các đối thủ có thực lực sẽ phá tan những kỳ vọng trước chiến tranh, khiến các bên tham chiến rơi vào thế bế tắc. Các lợi ích chánh trị cao ngay từ đầu xung đột thúc đẩy cả hai bên tiếp tục chiến đấu, nhưng không bên nào có thể thắng. Nếu Mỹ và Trung Hoa rơi vào cái bẫy này, kết quả sẽ là một cuộc chiến kiệt quệ, kéo dài khiến cả hai đều kiệt quệ hơn.

 

Người Hy Lạp cổ trong những trận chiến mới

Không ai hiểu rõ hơn Thucydides về việc các cuộc chiến ngắn ngày trở nên kéo dài như thế nào. Văn bản cổ của ông làm nổi bật sự khác biệt hiện đại giữa sách lược và đại sách lược. Sách lược là một học thuyết về chiến thắng, một luận lý xử dụng bạo lực quân sự để đạt được các mục tiêu chánh trị. Nó mang lại trật tự cho các chiến dịch quân sự để chiến tranh không rơi vào cảnh giết chóc vô nghĩa. Rất khó để duy trì điều này: bạo lực giải phóng những thế lực phi lý, sự hỗn loạn và cảm xúc cực độ, và chiến tranh không bao giờ diễn ra hoàn toàn theo kế hoạch. Tuy nhiên, sách lược vẫn thiết yếu vì nó buộc các viên chức lãnh đạo phải tập trung vào mục đích chánh trị của mình và ngăn họ bị ám ảnh bởi những nhu cầu quân sự thuần túy.

Đại sách lược là một lý thuyết về an ninh. Nó giải thích cách một quốc gia giữ cho mình an toàn trong thế giới này. Nó dẫn dắt các công cụ trị quốc dựa trên một thế giới quan nhứt quán và một sự đánh giá hợp lý về cán cân quyền lực. Tất nhiên, rất khó để có được những đánh giá đáng tin cậy, và việc phối hợp các bộ máy hành chánh lớn xung quanh một mục đích chung thường là một thách thức thực tiễn. Những gì câu chuyện của Thucydides hé lộ là ngay cả khi những vấn đề này có thể vượt qua, các sai lầm chiến lược trong chiến tranh vẫn có thể làm xói mòn những đại sách lược rất tốt.

Cả Athens và Sparta đều dựa vào các đại sách lược khai thác lợi thế so sánh của họ. Athens sở hữu lực lượng hải quân lớn nhất và tân tiến nhất ở thời Hy Lạp cổ đại. Họ tự hào với hơn 300 tàu chiến ba tầng chèo, những chiếc thuyền chiến lợi hại có sức mạnh phá hủy tàu địch bằng cách đâm húc ở tốc độ cao. Athens đã mài giũa chiến thuật hải quân qua nhiều thập niên và có thể huy động một đội ngũ lớn các thuyền trưởng, lái tàu và người chèo thuyền giàu kinh nghiệm. Hơn nữa, đại sách lược của Athens được tổ chức xoay quanh chủ nghĩa đế quốc hải quân. Nền kinh tế của họ phụ thuộc vào giao thương với một đế chế rộng lớn gồm các thuộc địa và đồng minh cống nạp, và doanh thu đế chế được dùng để tài trợ cho hạm đội đang mở rộng. Hỗ trợ cho hải quân là một cấu trúc hành chánh đồ sộ xung quanh cảng Piraeus được bảo vệ nghiêm ngặt. Thực vậy, thời hoàng kim của Athens chính là một thắng lợi của hệ thống hành chánh.

 

Sparta không thách thức năng lực hải quân của Athens. Thay vào đó, họ tập trung vào bộ binh của đối thủ. Đội quân đó được sắp xếp xung quanh phương trận (phalanx), là một đội hình sắp xếp theo hàng và cột gồm các bộ binh hạng nặng gọi là hoplites. Một phương trận được trang bị tốt và tổ chức chặt chẽ là một cỗ máy hủy diệt trên đất liền, nhưng nó đòi hỏi rất nhiều ở các bộ binh hạng nặng (hoplites), hầu hết trong số họ thực sự không thể nhìn thấy toàn cảnh chiến trường. Để giữ phương trận di chuyển đòi hỏi sự bền bỉ và kỷ luật, nghĩa là phải huấn luyện và thực hành sâu rộng. Sparta tạo ra thời gian cho binh lính của mình bằng cách chuyển phần lớn công việc kinh tế thường nhật của thành bang cho bộ phận nô lệ đông đảo. Kết quả là, họ có thể khai triển một lực lượng có lẽ gấp sáu lần quy mô quân đội khiêm tốn của Athens.

Những thực tế này đã rõ ràng với giới quan sát cả hai bên, ngay cả trong cuộc khủng hoảng chánh trị dẫn đến chiến tranh năm 431 TCN. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo đã bị mê hoặc bởi ý nghĩ rằng họ có thể thắng một cuộc chiến mà không cần thách thức lực lượng chính của kẻ thù. Kế sách của Athens kết hợp phòng thủ — rút lui sau những bức tường thành — và tấn công hạn chế dưới hình thức các cuộc đột kích dọc bờ biển Peloponnese. Người Athens có lẽ tin rằng những cuộc đột kích này sẽ kích động một cuộc nổi dậy của nô lệ ở Sparta bằng cách làm xao nhãng lực lượng Spartan, và họ hy vọng rằng một cuộc nổi dậy như vậy sẽ gây áp lực lên thành bang Sparta mà Athens không cần phải trực tiếp đối đầu với bộ binh Sparta.

 

Những lỗ hổng cơ bản trong chiến lược này đã bộc lộ ngay từ đầu cuộc chiến. Athens hy vọng vào một cuộc chiến ngắn — ngân khố chỉ có đủ kinh phí cho ba năm chiến đấu — nhưng những cuộc đột kích nhỏ lẻ của họ rất khó mang lại kết quả ngay lập tức. Ý tưởng rằng Athens có thể kích hoạt một cuộc nổi loạn tức thời chỉ là suy nghĩ hão huyền. Một vấn đề khác là áp lực từ việc chứa chấp một lượng lớn người Athens từ vùng nông thôn bên trong những bức tường thành trong suốt thời gian chiến tranh. Những công dân thất vọng đòi hỏi các đợt tấn công quyết liệt hơn, và các nhà lãnh đạo Athens đã cố gắng xoa dịu họ bằng một cuộc hành quân đường bộ không hiệu quả.

Vì Athens nể sợ sức mạnh lục quân của Sparta, họ luôn ngần ngại mạo hiểm giao chiến. Và vì kết quả của các cuộc đột kích đổ bộ chỉ ở mức tối thiểu, họ không có con đường rõ ràng để dẫn đến chiến thắng. Tuy nhiên, hải quân của Athens vẫn chiếm ưu thế, vì vậy họ không cần phải nhượng bộ trước áp lực của Sparta. Thay vào đó, họ tiếp tục chiến đấu.

 

Hy vọng của Sparta về một chiến thắng nhanh chóng và quyết đoán cũng dựa trên những ảo tưởng sách lược. Họ hy vọng tranh thủ được hải quân Ba Tư đứng về phía mình, nhưng người Ba Tư không quan tâm đến việc tham gia cuộc chiến của Sparta. Sparta cử một đội quân lớn đi quấy rối người Athens, hy vọng nhử họ rời khỏi sự an toàn của thành phố. Nhưng khi Athens không mắc bẫy, người Spartan lại hành quân về nhà. Trong khi đó, các trận hải chiến ban đầu với Athens đã dẫn đến những tổn thất thê thảm, và các cuộc viễn chinh hải quân sau đó thường kết thúc khi các thuyền trưởng Sparta biết rằng các tàu ba tầng chèo của Athens đang ở gần. Các chiến dịch này nhắm vào tàu buôn, cùng với các chiến dịch đổ bộ thỉnh thoảng nhắm vào các cứ điểm của Athens, với hải quân Sparta đóng vai trò chủ yếu như một phương tiện vận chuyển các bộ binh hạng nặng (hoplites). Có thể hiểu được vì sao người Spartan coi các cuộc đối đầu hải quân trực tiếp là liều lĩnh, xét trên sự yếu kém tương đối của họ trên biển. Nhưng sự kiềm chế về mặt chiến thuật của họ đã khiến tiến trình chiến lược trở nên bất khả thi.

Sau những thất vọng ban đầu, sự thận trọng bao trùm cả hai bên. Không thể thắng thông qua các phương tiện gián tiếp và không sẵn lòng chiến đấu trực tiếp, Athens và Sparta rơi vào một cuộc xung đột kéo dài. Khi năm tháng trôi qua, các chi phí kinh tế và chánh trị tăng vọt. Athens ngày càng dựa dẫm vào các công dân giàu có để tài trợ cho chiến tranh, và khi tình hình thực sự tuyệt vọng, họ đã nung chảy các bức tượng vàng để lấy tiền. Cả hai quốc gia đều trải qua những cuộc đấu đá nội bộ tàn khốc và các mối quan hệ dân sự – quân sự độc hại khi sự thất vọng và giận dữ tích tụ trong suốt cuộc chiến kéo dài hơn bất kỳ ai mong đợi.

Sparta cuối cùng đã đánh bại Athens vào năm 404 TCN — sau 27 năm chiến tranh. Đó là một chiến thắng rỗng tuếch. Cái giá của cuộc chiến kéo dài và sự hỗn loạn chánh trị sau đó đã khiến Sparta dễ bị tổn thương trước sự săn đuổi của các cường quốc khác, chẳng hạn như Thebes và Macedon. Chẳng bao lâu sau, họ cũng phải lo lắng về một Athens đang phục hưng, vội vàng khôi phục vị thế của mình trong thế giới Hy Lạp. Sparta phải chịu đựng một chuỗi các cuộc chiến tranh, cuối cùng bị khuất phục trước Alexander Đại đế khi ông mở rộng đế chế Macedonian của mình một thế kỷ sau khi họ cầm kiếm chống lại Athens.

Thucydides đã không còn sống để chứng kiến sự khuất phục của Sparta, nhưng ông đã tiên liệu về thảm họa sắp tới. Ông đặc biệt nhạy bén với cách mà sự vội vã hỗn loạn dẫn đến chiến tranh đã khuyến khích các ảo tưởng nghiêm trọng — với những kết quả tồi tệ có thể đoán trước. Cái bẫy thực sự mà Athens và Sparta bước vào là ảo tưởng về một chiến thắng không đổ máu. Cả hai đều bị mê hoặc bởi ý nghĩ rằng họ có thể thắng nhanh và với cái giá rẻ, mà không cần đối mặt với kẻ thù trong lĩnh vực sở trường của chúng. Những niềm tin đó là sai lầm. Đến khi một trong hai bên nhận ra điều đó, họ đã mắc kẹt trong một cuộc chiến dài và khủng khiếp.

 

Những kẻ thổi phồng

Thucydides viết về một cuộc chiến xử dụng giáo và thuyền chèo, điều này có vẻ giống như một sự so sánh mơ hồ cho cuộc cạnh tranh công nghệ cao giữa các cường quốc hiện đại. Tuy nhiên, những công nghệ tân tiến thời cổ đại thực sự là những kỳ tích đáng kinh ngạc về kỹ thuật và tổ chức quân sự. Các chiến binh mặc giáp/chiến bịnh hạng nặng (hoplites) của Sparta đội những chiếc mũ trụ và mặc áo giáp tinh vi — những thứ tốt nhất mà kỹ thuật luyện kim cổ đại có thể cung cấp — và họ mang theo những chiếc khiên chuyên dụng giúp đôi tay cầm kiếm được tự do. Nhiều năm huấn luyện đã tạo ra những bộ binh kỷ luật cao, những người có thể xử dụng những công cụ này trong những trận chiến trên bộ kinh hoàng mà không mất đi sự bình tĩnh. Trong khi đó, tàu ba tầng chèo của Athens đại diện cho sự cân bằng hoàn hảo giữa tốc độ, tính năng cơ động và sức mạnh. Võ khí chính của nó là một mũi húc bằng đồng ở mũi tàu, được thiết kế cẩn thận để đục thủng thân tàu địch mà không bị mắc kẹt và bảo đảm rằng các vụ đụng tàu sẽ không làm hỏng chính con tàu. Những kỳ quan như vậy gây kinh ngạc vào thời đó, đến mức các quốc gia sở hữu chúng bắt đầu mặc định rằng chúng có thể giúp họ thắng cuộc chiến tiếp theo.

 

Điều tương tự cũng đúng với các công nghệ ngày nay. Các nền tảng giám sát tinh vi tạo ra lượng thông tin khổng lồ về vị trí và sức mạnh của lực lượng đối phương. Trí tuệ/ trí thông minh nhân tạo giúp phân loại dữ liệu nhanh hơn, rút ngắn chu kỳ đưa ra quyết định và tăng tốc độ trận chiến. Các võ khí chính xác cho phép các chỉ huy khai hỏa vào mục tiêu ở khoảng cách xa hơn và ít gây thiệt hại ngoài ý muốn hơn. Và các hoạt động trong không gian mạng hứa hẹn sẽ phá vỡ mạng lưới chỉ huy và kiểm soát, khiến kẻ thù khó hoặc không thể phản công.

Cả Trung Hoa và Mỹ đều kỳ vọng các công nghệ này sẽ mang lại kết quả nhanh chóng. Học thuyết của Trung Hoa trong suốt một phần tư thế kỷ qua đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giành lấy thế chủ động trong chiến tranh, xử dụng kết hợp các võ khí thông tin và các đòn đánh sâu để làm tê liệt kẻ thù ngay từ đợt tấn công đầu tiên. Việc đưa AI vào tất cả các khía cạnh của hoạt động quân sự đã củng cố thêm những ý tưởng này. Một nghiên cứu của RAND vào tháng 3 năm 2026 về các ấn phẩm và tuyên bố của Quân đội Nhân dân Trung Hoa (PLA) làm nổi bật một vài chủ đề nhất quán: AI sẽ đẩy nhanh việc thu thập và kiểm soát thông tin tình báo, nén các chu kỳ quyết định tác chiến và cho phép các cuộc tấn công hiệp đồng bất ngờ từ nhiều hướng. “Nhiều cuộc thảo luận liên quan đến PLA”, các tác giả quan sát, “đề cập đến mục tiêu sở hữu AI có thể đồng thời điều khiển nhiều loại võ khí và phương thức tác chiến, đồng thời thực hiện các cuộc tấn công dồn dập, cho phép hủy diệt nhanh chóng lực lượng kẻ thù”. Những ý tưởng này phản ánh một giả định thâm căn cố đế rằng mọi thứ sẽ phụ thuộc vào đợt khai hỏa đầu tiên, và sự táo bạo là chìa khóa của chiến thắng. Kiên nhẫn, theo quan điểm của Trung Hoa, không phải là một đức tính.

 

Mỹ dường như cũng đồng ý. Ngũ Giác Đài đang bị ám ảnh bởi tính sát thương và AI, và họ đang lập kế hoạch cho những cuộc chiến giữa các cường quốc mà không có gì giống với các cuộc thế chiến của thế kỷ trước. Các cuộc chiến cũ là những cuộc đấu về số lượng, năng lực sản xuất và ý chí chánh trị bền bỉ. Những cuộc chiến mới sẽ là những cuộc đối đầu đầy điên cuồng, với kết quả được quyết định bởi bên nào có thể nhìn xuyên qua màn sương chiến tranh giữa những ngày giao tranh hỗn loạn đầu tiên. Việc thực hiện các đòn đánh hiệu quả — và phòng thủ trước các cuộc tấn công của kẻ thù — sẽ đòi hỏi phải duy trì lợi thế thông tin nhờ các công nghệ mới. Trí tuệ/trí thông minh nhân tạo sẽ cho phép các cơ quan hoạch định sàng lọc qua khối lượng dữ liệu khổng lồ, nhanh chóng định vị các lỗ hổng của kẻ thù và xác định các mục tiêu quân sự cũng như chánh trị. Các cuộc tấn công mạng sẽ làm tổn hại hệ thống liên lạc của đối phương đúng lúc chúng đang cần thiết nhất, làm xáo trộn các tuyến quyền lực và xói mòn lòng tin. Các cuộc không kích và hỏa tiễn sẽ buộc kẻ thù vào thế phòng thủ và ngăn chúng tổ chức hiệu quả. Và giữa sự hỗn loạn này, các lực lượng đặc biệt có thể truy lùng các quan chức lãnh đạo quân sự và chánh trị, đẩy kẻ thù vào cảnh hỗn loạn hơn nữa. Ưu thế công nghệ sẽ cho phép những chiến thắng nhanh chóng và chênh lệch.

 

Tầm nhìn này thể hiện rõ trong cách chánh quyền Trump xây dựng các chiến dịch quân sự gần đây. Các viên chức ở Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài đã nhiều lần nhấn mạnh việc xử dụng các loại võ khí chuyên dụng và công cụ gián điệp trong cuộc đột kích hồi tháng Giêng 2026 vào Ủy Nội Thụy Lạp (Venezuela) và trong chiến dịch ném bom gần đây hơn chống lại Ba Tuuu. Sau khi lực lượng Mỹ bắt giữ tổng thống Ủy Nội Thụy Lạp, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đã mô tả sự phối hợp của các tài sản không gian, công cụ không gian mạng, drone và phi cơ đã đóng góp vào chiến dịch này. Sau khi không quân Do Thái tiêu diệt lãnh đạo tối cao của Ba Tư, tổng thống Mỹ đã lên mạng xã hội để khoe khoang về “Hệ thống Theo dõi và Tình báo Vô cùng Tinh vi” được xử dụng để tìm ra ông ta.

Mặc dù quân đội Mỹ đã thể hiện sự khéo léo về chiến thuật và năng lực kỹ thuật trong cả hai trường hợp, nhưng cả hai đối thủ đều không đủ tư cách là một cường quốc. Ủy Nội Thụy Lạp đã phải chịu đựng thảm họa kinh tế trong nhiều năm, và các lực lượng an ninh của họ không phải là đối thủ của người Mỹ. Ba Tư thậm chí còn trong tình trạng tồi tệ hơn, khi chứng kiến mạng lưới ủy nhiệm khu vực của mình sụp đổ và đối mặt với sự hỗn loạn kinh tế, chánh trị nghiêm trọng trong nước. Hệ thống phòng không của Ba Tư đã bị lộ diện trong các cuộc ném bom của Do Thái và Mỹ vào năm ngoái, khiến họ trở nên đặc biệt dễ bị tổn thương. Như Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã nói, “Chúng ta đang đấm chúng khi chúng đã ngã”. Tuy nhiên, Ba Tư vẫn có thể đáp trả, bất chấp những bất lợi, ngay cả sau nhiều tuần bị Mỹ tấn công. Các lực lượng Mỹ nắm quyền làm chủ bầu trời ngay từ đầu và đã ném bom hơn 13.000 mục tiêu, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để buộc chế độ Ba Tư phải đầu hàng. Tính sát thương trong tác chiến không đồng nghĩa với thành công về mặt sáchh lược.

Và mặc dù Mỹ có thể kỳ vọng sẽ áp đảo một kẻ thù tương đối yếu, ít nhất là về mặt tác chiến, nhưng một cuộc xung đột chống lại một cường quốc có thực lực sẽ phức tạp hơn và khó có thể diễn ra suôn sẻ. Nguy hiểm ở chỗ, niềm tin vào các công nghệ mới và các khái niệm tác chiến có thể khuyến khích những niềm tin sai lầm về một chiến thắng nhanh chóng. Người Athens và người Spartan đã học được bài học này một cách đau đớn qua nhiều thập niên. Câu hỏi đặt ra hiện nay là liệu các viên chức lãnh đạo Mỹ và quan chức Trung Hoa có thể tránh được số phận tương tự hay không.

 

Tránh rơi vào bẫy

Bước đầu tiên là tư duy sáng tạo hơn về ngoại giao quân sự. Tháng 12 năm 2025, các viên chức quốc phòng Mỹ đã tuyên bố ủng hộ các kênh quân sự trực tiếp với Trung Hoa nhằm giúp tránh những hiểu lầm trong tình huống khẩn cấp — tương tự như đường dây nóng thời Chiến tranh Lạnh được thiết lập giữa Hoa Thịnh Đốn và Mạc Tư Khoa sau cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cổ Ba (Cuba). Giữ cho các đường dây liên lạc cởi mở rõ ràng là quan trọng, nhưng một đường dây nóng là không đủ. Kênh này có thể sẽ chỉ được dành riêng cho các cuộc nói chuyện của cấp cao, và chỉ trong những tình huống cực đoan. Do đó, nó sẽ không giúp ích được nhiều trong việc thúc đẩy sự thấu hiểu sâu sắc hơn giữa giới chuyên gia quân sự của cả hai bên trong các hoạt động thường nhật.

Một hình thức ngoại giao hữu ích hơn sẽ mở ra cánh cửa cho các giao tiếp thường nhật giữa các sĩ quan cấp thấp trong các bối cảnh ít căng thẳng hơn. Các địa điểm cho những cuộc gặp gỡ như vậy có thể bao gồm các học viện quân sự, nơi vốn truyền thống là những nơi học viên có cơ hội đọc các tác phẩm kinh điển về lý thuyết sách lược — bao gồm cả Thucydides — và thảo luận về sự nguy hiểm của thói kiêu ngạo trước chiến tranh. Nếu các thách thức chánh trị khiến các chương trình học thuật của các sĩ quan trở nên bất khả thi, thì các cuộc đối thoại Kênh II cũng có thể tập trung tương tự vào việc tránh một cuộc chiến kéo dài không mong muốn. Chẳng hạn, các chuyên gia phân tách quốc phòng có thể nói về các rào cản thực tiễn đối với các chiến dịch hiệp đồng hiệu quả, đưa một chút thực tế vào các cuộc thảo luận về các tình huống thời chiến có thể xảy ra. Bất kể bối cảnh nào, việc khuyến khích đối thoại về những rủi ro này ở các cấp thấp hơn sẽ khiến tính năng của một đường dây nóng cấp cao phải vận hành trở nên thấp hơn.

 

Các viên chức Mỹ cũng nên bớt nói trước công chúng về sự thần kỳ của công nghệ Mỹ. Sự cám dỗ muốn ăn mừng là có thể hiểu được, dù là trước ống kính hay trên mạng xã hội. Các chiến dịch quân sự rất khó lập kế hoạch và thực hiện, và các sĩ quan tự hào về thành tựu của họ. Tuy nhiên, có một rủi ro là việc khoe khoang về các chiến dịch dựa trên tình báo và những năng lực tinh vi sẽ dẫn đến sự tự tin thái quá. Rất dễ bị cuốn vào sự mới lạ của công nghệ mà mất đi cái nhìn về sách lược rộng lớn hơn — và quên rằng những gì hiệu quả chống lại kẻ thù yếu có thể sẽ không tác dụng với kẻ thù mạnh hơn. Những lời lẽ thận trọng có chủ đích là một cách tốt để bảo vệ cộng đồng quốc phòng khỏi sự thổi phồng của chính mình.

Những lời bàn tán thiếu thận trọng cũng có thể củng cố thêm nỗi sợ hãi ở Trung Hoa về năng lực của Mỹ. Các quan sát viên quân sự Trung Hoa có thể suy luận từ các tuyên bố của Mỹ rằng Mỹ đã học được cách chiến đấu trong nhiều lĩnh vực đồng thời, khiến lợi thế sức mạnh lục quân của Trung Hoa trở nên không còn phù hợp nữa. Những lời lẽ đầy thắng lợi sau cuộc đột kích ở Ủy Nội Thụy Lạp là đặc biệt đáng chú ý vì nó gợi ý rằng các lực lượng hải quân, không quân và lục quân của Mỹ đã làm chủ được nghệ thuật tác chiến hiệp đồng, mang lại khả năng thực hiện các nhiệm vụ phức tạp chống lại kẻ thù trên đất liền. Trong tình huống xấu nhất, những tuyên bố công khai đầy tự tin có thể mang lại cho Trung Hoa lý do để chấp nhận những rủi ro phi thường trong một cuộc khủng hoảng. Năng lực của Mỹ có thể gây ra sự kinh ngạc với các quan chức lãnh đạo Trung Hoa nhưng không răn đe được họ. Thay vào đó, họ có thể kết luận rằng giải pháp duy nhất trong một cuộc chiến vũ trang là nổ súng trước.

 

Cuối cùng, các lãnh đạo Mỹ và Trung Hoa nên cân nhắc lại thái độ đối với các chiến dịch ngầm. Đánh giá từ các tuyên bố chánh thức, cả hai dường như đều bị thuyết phục rằng bên kia đang tham gia vào một hình thức chiến dịch ngầm nào đó, phần lớn là trong không gian mạng. Chẳng hạn, các viên chức tình báo Mỹ đã gióng lên hồi chuông cảnh báo rằng các cơ quan tình báo Trung Hoa đang cài cắm mã độc vào hạ tầng cơ sở của Mỹ. Chính phủ Trung Hoa cũng đưa ra những cáo buộc tương tự chống lại Mỹ, bao gồm các tuyên bố vào năm ngoái rằng chánh phủ Mỹ đã gây rủi ro cho mạng lưới liên lạc, hệ thống tài chánh và nguồn cung cấp điện của Trung Hoa.

Tất nhiên, sẽ là ngạc nhiên nếu các viên chức không bày tỏ lo ngại về loại hình can thiệp này. Nhưng nghe có vẻ ngược đời, một cuộc cạnh tranh ngầm có thể giúp kiểm soát sự leo thang trong dài hạn. Các hoạt động bí mật đã đóng vai trò đó trong lịch sử; ví dụ, Mỹ và Liên Xô đã xử dụng hình thức này ở Bắc Hàn và Việt Nam để giảm thiểu rủi ro xung đột trực tiếp. Miễn là các cuộc tấn công mang tính hủy diệt cao không được tính tới, các chiến dịch ngầm có thể đóng vai trò như một loại ‘van xả áp’, cho phép các quốc gia cạnh tranh theo những cách thức mà không đẩy xung đột lên đến mức hủy diệt lẫn nhau. Các cuộc đối đầu công khai giữa các cường quốc sở hữu võ khí nguyên tử có thể vượt tầm kiểm soát, nhưng hành động chống lại quốc gia khác theo những cách có thể chối bỏ một cách hợp lý — hoặc theo những cách mà phần còn lại của thế giới hoàn toàn không thấy — không mang lại rủi ro lớn như vậy. Một sự hiểu ngầm giữa Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh có thể cho phép cả hai cố gắng giành lợi thế mà không phải mạo hiểm đánh đổi mọi thứ.

 

Các chiến dịch ngầm cũng có thể làm giảm nguy cơ xảy ra chiến tranh trực tiếp theo một cách khác. Các cơ quan quân sự là những bộ máy hành chánh vũ trang khổng lồ, và giống như bất kỳ bộ máy nào, họ đối mặt với những trục trặc tất yếu gây ra sự kém hiệu quả. Trong điều kiện bình thường, những vấn đề này — lỗi email, thủng lốp xe, nhân sự bị ốm, vân vân — là phiền phức nhưng có thể chấp nhận được. Các chiến dịch ngầm có thể bồi thêm rào cản vào bộ máy hành chánh của đối phương. Các chiến dịch tấn công mạng cố tình phô trương và được thiết kế để bị phát hiện có thể khiến đối phương nghi ngờ tính bảo mật trong hệ thống liên lạc của chính họ, từ đó thúc đẩy lối hành xử biệt lập, một rào cản đối với việc thực hiện các chiến dịch hiệp đồng quân sự hiệu quả. Việc phá hoại ngầm cũng có thể khiến các đối thủ nghi ngờ về tính toàn vẹn của khí tài quân sự, đặc biệt nếu họ dựa vào chuỗi cung ứng dài để mua sắm và bảo trì.

 

Nếu thêm đủ lực ma sát trong một khoảng thời gian đủ lâu, các viên chức hành chánh có thể bắt đầu nghi ngờ khả năng của họ trong việc thực thi các kế sách quân sự dựa trên các thao tác phức tạp và sự phối hợp liên cơ quan. Đây chính là những loại kế sách mà Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh kỳ vọng sẽ dẫn đến chiến thắng nhanh chóng và quyết đoán, và việc buộc cả hai bên phải đặt dấu hỏi về tính khả thi của chúng có thể làm nguội đi sự hào hứng dấn thân vào chiến tranh ngay từ đầu.

Hiện tại, Mỹ và Trung Hoa đang trên cùng một con đường nguy hiểm như Athens và Sparta. Mỗi cường quốc đều cảm thấy rằng các công nghệ mới sẽ giúp mình vượt qua lợi thế so sánh của bên kia, mang lại hy vọng về một chiến thắng chớp nhoáng với chi phí thấp. Họ càng nuông chiều hy vọng tiền chiến này, họ càng dễ thấy mình lọt vào một cuộc xung đột kéo dài. Tin tốt là vẫn chưa quá muộn để Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh tự thoát khỏi cái bẫy này.

 

JOSHUA ROVNER là Giáo sư về Quan hệ Quốc tế tại Đại học American và là Nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Viện Brookings. Ông là tác giả của cuốn sách Sáchh lược và Đại sách lược (Strategy and Grand Strategy).

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận