Đại sách lược đằng sau chánh sách đối ngoại của Trump

Nguồn: A. Wess Mitchell, “The Grand Strategy Behind Trump’s Foreign Policy,” Foreign Policy, 14/01/2026.

 

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng (nghiencuuquocte.org)

 

Đừng bận tâm những người chỉ trích. Luận lý về củng cố vị thế định hình nên Sách lược An ninh Quốc gia mới là hoàn toàn hợp lý.

 

Hai luồng chỉ trích cơ bản đã xuất hiện sau khi chánh quyền Trump công bố Sách lược An ninh Quốc gia (NSS) mới của Mỹ vào tháng trước. Một số chuyên gia phê bình cho rằng văn kiện này thiếu tầm nhìn sách lược thống nhứt, và chỉ đơn thuần là một danh sách mong muốn mang tính giao dịch nhằm làm hài lòng các phe phái đối lập trong chánh quyền. Những người khác lại cho rằng nó thể hiện sự rút lui khỏi cạnh tranh, theo đó ngầm chấp nhận – và thậm chí khuyến khích – các cường quốc đối thủ tìm kiếm sự thống trị trong khu vực của họ.

 

Hai luồng chỉ trích này tương ứng với hai luồng quan điểm chánh sách đối ngoại chủ đạo trong chánh trường Mỹ suốt 30 năm qua. Đối với nhóm thứ nhứt, chủ yếu gồm những tiếng nói từ cánh tả chánh thống, ý nghĩa của NSS nằm ở việc họ xem đó là quyết định ngầm từ bỏ sự ủng hộ của Mỹ đối với cái gọi là trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Đối với nhóm thứ hai, chủ yếu gồm những tiếng nói từ cánh hữu chánh thống, ý nghĩa của NSS nằm ở sự từ bỏ vị thế quân sự vượt trội của Mỹ ở Âu châu và Á châu, đồng thời sẵn sàng chấp nhận những lập trường nhượng bộ đối với Nga và Trung Quốc.

 

Cả hai phe đều xem cuộc tấn công của Mỹ vào Venezuela là bằng chứng xác thực cho lập luận của mình. Điểm chung trong cả hai lời chỉ trích là nhận thức rằng chánh sách đối ngoại của Trump không chỉ là bước ngoặt rời khỏi cách làm việc thông thường của Mỹ ở nước ngoài, mà còn là sự từ bỏ hoàn toàn kỷ luật của đại sách lược – dù là trong hình thức thể chế hay quân sự – để đổi lấy một thứ hoàn toàn khác: ý thức hệ, chủ nghĩa giao dịch, và các chiến thuật ngắn hạn.

Nhưng cả hai luồng chỉ trích đều không đúng trọng tâm. Các hành động sách lược của Trump, và rộng hơn là NSS, thực chất bắt nguồn từ một luận lý rõ ràng và thuyết phục, được xây dựng vững chắc trên nền tảng của đại sách lược. Trong lịch sử, luận lý này được gọi là củng cố (consolidation): nỗ lực của một cường quốc nhằm chủ động củng cố vị thế của mình để gia tăng sức mạnh mà họ có thể xử dụng theo thời gian. Củng cố vị thế có nghĩa là chấp nhận những đánh đổi ngắn hạn, trong khi nỗ lực cải tạo các yếu tố cấu trúc cơ bản để cường quốc đó có thể vượt qua hoặc giảm thiểu những đánh đổi đó trong tương lai. Nói cách khác, nó là sự đánh đổi rủi ro ngắn hạn lấy lợi ích dài hạn.

Củng cố là một sách lược lâu đời được nhiều cường quốc thành công nhứt trong lịch sử xử dụng để ổn định vị thế của họ trong những thời khắc nguy hiểm. Nó phản ánh một thực tế phổ quát trong cuộc sống, kinh doanh, và sách lược: Các hệ thống bị dàn trải quá mức thường dễ sụp đổ. Trong trường hợp của Mỹ, củng cố vị thế là phản ứng hợp lý đối với hai vấn đề sách lược tối quan trọng – thứ nhứt, nước này không đủ sức mạnh quân sự để chiến đấu với tất cả các đối thủ cùng một lúc, nếu cần. Và thứ hai, sức mạnh kinh tế và công nghệ tổng thể của nước này đang dần suy yếu so với Trung Quốc, đối thủ đáng gờm nhứt trong lịch sử Mỹ.

 

Cả hai vấn đề đều bắt nguồn từ các chánh sách trước đây, khi Mỹ mở rộng cam kết quân sự ở nước ngoài nhưng lại bỏ quên những nguồn sức mạnh nền tảng mà quyền lực của Mỹ thực sự dựa vào. Kết quả là khoảng cách ngày càng lớn giữa các phương tiện mà Washington có trong tay và các mục tiêu mà họ muốn đạt được bằng cách xử dụng những phương tiện đó. Khoảng cách này là có thật và sẽ không tự thu hẹp lại. Tìm cách thu hẹp hoặc ứng phó với khoảng cách giữa mục tiêu và phương tiện chính là cốt lõi của đại sách lược.

Có thể xem NSS như một khuôn khổ để chủ động quản lý khoảng cách đó, thông qua hai hướng: vừa tăng cường các nguồn lực mà Mỹ có trong tay (bằng cách tái cấu trúc quan hệ thương mại, cân bằng lại các liên minh, và huy động nguồn lực của Mỹ cũng như toàn khu vực châu Mỹ), vừa giảm bớt các mục tiêu hoặc mối đe dọa trước mắt mà những nguồn lực này phải đối phó (thông qua ngoại giao sách lược, hòa hoãn, và răn đe). Về mặt chánh sách, điều này được thể hiện qua năm trụ cột chánh: củng cố Tây bán cầu; duy trì cân bằng quyền lực thuận lợi ở Á châu; giao phó quốc phòng Âu châu cho người Âu châu; giao phó sự ổn định Trung Đông cho các liên minh khu vực; và tận dụng năng lượng của Mỹ và việc bãi bỏ quy định để thúc đẩy mạnh mẽ các công nghệ cạnh tranh của Mỹ.

Tất cả các trụ cột này đều tuân theo luận lý cạnh tranh hướng tới sự củng cố vị thế.

 

Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro được các đặc vụ liên bang Mỹ hộ tống đến một tòa án ở Manhattan để đối mặt với các cáo buộc liên bang của Mỹ, tại Thành phố New York ngày 05/01/2026. Ảnh: Adam Gray/Reuters.

 

Trụ cột đầu tiên là nội dung hứng chịu nhiều chỉ trích nhứt. Những người chỉ trích cho rằng, bằng việc tái khẳng định mạnh mẽ Học thuyết Monroe, chánh quyền đang ngầm từ bỏ luận lý cạnh tranh vì nó chuyển hướng nguồn lực của Mỹ khỏi mối đe dọa hàng đầu là Trung Quốc. Nhưng việc tái tập trung vào khu vực sân nhà không nhứt thiết mâu thuẫn với nguyên tắc cạnh tranh. Trong cuốn sách gần đây của tôi, trong đó nghiên cứu các sự kiện địa chánh trị diễn ra xuyên suốt 1.400 năm đại sách lược, tôi nhận thấy rằng khi bị đe dọa bởi nguy cơ chiến tranh đa mặt trận vượt quá tiềm năng chiến thắng trước mắt, phần lớn các cường quốc đã phản ứng bằng cách bảo vệ khu vực sân nhà của mình trước tiên. Bảo vệ biên giới, đẩy lùi các đối thủ khỏi vùng lân cận, và bảo đảm năng lực kiểm soát các khu vực tài nguyên liền kề là những điều kiện tiên quyết để duy trì cạnh tranh ở những nơi xa hơn.

Nhờ vị trí địa lý độc đáo của Tây bán cầu, Mỹ sở hữu năng lực đặc biệt để củng cố vị thế mà không làm phân tán sự chú ý khỏi các đối thủ chính. Trong khi Nga và Trung Quốc nằm trong các khu vực đầy rẫy các cường quốc công nghiệp đối địch và được vũ trang mạnh mẽ, Mỹ lại nằm trong một khu vực có sự bất đối xứng quyền lực rõ rệt hơn nhiều, nghiêng hẳn về phía họ. Không giống như Nga đối với Đông Âu và Trung Quốc đối với Đông Á, Mỹ không có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ nào ở Mỹ Latinh. Washington có thể dễ dàng đạt được mục tiêu của mình ở đó thông qua các cuộc phô trương sức mạnh định kỳ mà không cần khai triển lực lượng thường trực quy mô lớn trong khu vực. Hải quân Mỹ có thể hiện diện ở Đông Thái Bình Dương hôm nay và Tây Thái Bình Dương 10 ngày sau đó.

 

Vì vậy, việc chuyển hướng sang Tây bán cầu tự nó không nhứt thiết là sự chuyển hướng khỏi Trung Quốc, nước rõ ràng sẽ tiếp tục là mối đe dọa bên ngoài hàng đầu xét về tư thế quân sự và mua sắm võ khí. Miễn là chánh quyền không để mình bị cuốn vào một nỗ lực xây dựng quốc gia kéo dài và tốn kém tại Venezuela – và có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy họ muốn tránh điều đó – thì sự tập trung hiện tại vào Mỹ Latinh sẽ giúp củng cố chứ không làm suy yếu quyền lực và uy tín của Mỹ ở Á châu. Quyền được mua bán dầu mỏ của Venezuela, bao gồm cả việc dùng nguồn này để bồi thường cho các doanh nghiệp Mỹ từng bị quốc hữu hóa tài sản trong quá khứ, càng củng cố thêm quyền lực của Mỹ, đồng thời tước đoạt các nguồn tài nguyên đó khỏi Trung Quốc. Việc Mỹ lập kế hoạch hoặc kiểm soát tài nguyên ở Greenland, nếu điều đó cuối cùng trở thành hiện thực, cũng tuân theo luận lý củng cố tương tự.

Trụ cột thứ hai của NSS, liên quan trực tiếp đến Trung Quốc, cũng làm dấy lên nhiều lo ngại. Bằng cách định hình quan hệ với Bắc Kinh chủ yếu trên phương diện kinh tế, các chuyên gia phê bình cho rằng chánh quyền đang phát tín hiệu rút lui khỏi cách ứng xử cạnh tranh vốn được nhấn mạnh trong NSS thời chánh quyền Trump đầu tiên. Nhưng một động thái hướng tới hòa hoãn địa kinh tế với Trung Quốc không nhứt thiết là thiếu tính cạnh tranh. Một số trường hợp thú vị nhứt mà tôi đã phân tích trong cuốn sách của mình liên quan đến các cường quốc cần phải cùng tồn tại với một đối thủ kinh tế, trong khi cũng chuẩn bị cho tình huống chiến tranh chống lại chính đối thủ đó.

 

Trong trường hợp của Mỹ, cần lưu ý thêm hai thực tế nữa. Thứ nhứt, khi NSS được công bố, chánh quyền đang trong quá trình đàm phán thương mại toàn diện với Trung Quốc. Thứ hai, do nhiều năm bỏ bê nền tảng công nghiệp quốc phòng, Mỹ cần thời gian để bảo đảm chuỗi cung ứng của mình và chuẩn bị tốt hơn để răn đe và, nếu cần, để chiến đấu trong một cuộc chiến tiềm tàng với Trung Quốc. Những nỗ lực của chánh quyền nhằm thúc đẩy tái công nghiệp hóa có mục tiêu thông qua các chánh sách thương mại và thuế quan có đi có lại, bãi bỏ quy định, và tăng sản lượng năng lượng trong nước rất có thể sẽ giúp cải thiện tình hình theo thời gian. Và các cải cách mua sắm mới đây của Bộ Quốc phòng, tập trung vào việc tạo điều kiện cho các công ty nhỏ hơn và linh hoạt hơn có được các hợp đồng quân sự, có tiềm năng đẩy nhanh sản xuất quốc phòng của Mỹ.

Nhưng hiện tại, Mỹ cần không gian để ‘thở.’ Một sách lược nhấn mạnh ngoại giao để tìm ra giải pháp hòa giải tạm thời với Trung Quốc trong khi vẫn vun đắp các yếu tố sức mạnh dài hạn là phản ứng hợp lý đối với tình hình hiện tại. Bắc Kinh chắc chắn đã nhận ra rằng mọi trụ cột khác của NSS đều nhằm mục đích giải phóng nguồn lực của Mỹ để tập trung vào việc răn đe thái độ hung hăng của Trung Quốc.

Các binh sĩ Mỹ tham gia cuộc tập trận quân sự chung Mỹ-Romania tại Smardan, Romania, ngày 10/03/2022. Ảnh: Andreea Campeanu /Getty Images

 

Nội dung về Âu châu trong NSS có lẽ là gây tranh cãi nhứt. Trọng tâm chánh – giao trách nhiệm lớn hơn về an ninh của lục địa già cho chính người dân nơi đây – là một phản ứng đáng lẽ phải xuất hiện trước đây rất lâu, bởi thực tế là Mỹ hiện thiếu lực lượng quân sự thông thường đủ để tham chiến đồng thời ở Âu châu và Á châu. Ít được đề cập hơn, nhưng cũng quan trọng không kém đối với sự thành công của sách lược củng cố, là việc chánh quyền Mỹ tập trung vào việc phản đối các khuôn khổ pháp lý mang tính trừng phạt của Âu châu. Nếu không được điều chỉnh, những quy định này có nguy cơ bào mòn và làm suy yếu năng lực đổi mới của Mỹ trong các lĩnh vực công nghệ – những lĩnh vực sẽ quyết định phần lớn kết quả của cuộc cạnh tranh lâu dài với Trung Quốc.

Các chuyên gia phê bình cho rằng sự chỉ trích thẳng thừng của NSS đối với nền chánh trị Âu châu hiện hành xuất phát từ ý thức hệ chứ không phải sách lược. Nhưng tình trạng ở Âu châu mà NSS lên án – kết hợp nguy hiểm giữa sự trì trệ kinh tế tự gây ra, các nhóm người nhập cư chưa hòa nhập ngày càng lớn, và sự đàn áp ngôn luận – thực sự là một mối đe dọa mang tầm vóc văn minh đối với Âu châu, và rộng hơn là đối với phương Tây. Nỗ lực của Mỹ nhằm “giúp Âu châu điều chỉnh lại quỹ đạo hiện nay,” như cách NSS diễn đạt, mang bản chất sách lược, bởi nó cố gắng ngăn chặn quá trình suy yếu dần của một nửa thế giới phương Tây. Có rất nhiều ví dụ lịch sử về những cường quốc hành xử theo cách tương tự đối với các đồng minh có nền văn minh tương đồng ở gần mình. Xin dẫn chứng một ví dụ nổi bật. Hãy xem xét cách Otto von Bismarck, đại diện hàng đầu của chánh trị thực dụng, đã can thiệp thường xuyên và mạnh mẽ để tác động đến chánh trị nội bộ của Đế quốc Áo-Hung theo hướng có lợi cho Đức.

Có lẽ điều dễ đoán nhứt là, trụ cột của NSS về việc giảm ưu tiên khu vực Trung Đông sẽ dẫn đến những dự đoán về “khoảng trống quyền lực” gây ra thảm họa khôn lường. Nhưng ở mức độ còn lớn hơn cả ở Âu châu, chánh sách gần đây của Mỹ đã tạo ra các điều kiện thuận lợi cho cân bằng quyền lực Trung Đông, hỗ trợ việc giảm quy mô hiện diện quân sự của Mỹ. Các cuộc không kích của Israel và Mỹ vào Iran hồi năm ngoái đã làm suy yếu đáng kể sức mạnh quân sự của đối thủ chính trong khu vực mà Mỹ đã khai triển lực lượng chống lại. Hiệp định Abraham và các nỗ lực ngoại giao tiếp theo của Mỹ nhằm khuyến khích Israel và các nước Ả Rập xích lại gần nhau đã mang lại sự ổn định cho khu vực mà chỉ mới vài năm trước đây người ta còn không thể tưởng tượng nổi. Dù Trung Đông luôn có thể tạo ra những bất ngờ, nhưng sẽ là không hợp lý nếu xem khu vực này ngang hàng với Á châu hay Âu châu trong việc phân bổ nguồn lực quân sự của Mỹ.

 

Các mục tiêu quốc tế của chánh quyền Trump đều có liên quan đến mục tiêu trong nước bao quát là phục hồi vị thế quyền lực lâu dài của Mỹ thông qua sự kết hợp giữa tái công nghiệp hóa, bãi bỏ quy định kinh tế, sản xuất năng lượng, và tạo ra các yếu tố cần thiết để duy trì sự thống trị trong các công nghệ mới nổi sẽ định hình cạnh tranh với Trung Quốc. Các yếu tố quốc tế và trong nước của sách lược có xu hướng hoạt động song song: tập trung nhiều hơn vào Tây bán cầu giúp ổn định lãnh thổ Mỹ; cân bằng quyền lực giữa các chủ thể khu vực ở Âu châu và Trung Đông giải phóng nguồn lực để tập trung nhiều hơn vào Trung Quốc; ngoại giao sách lược với Trung Quốc giúp có thêm thời gian để xây dựng lại sức mạnh quốc gia; nhấn mạnh sự hài hòa về quy định với Mỹ khuyến khích đổi mới công nghệ trong nước; và đầu tư trong nước vào công nghiệp và năng lượng giúp thiết lập nền tảng kinh tế cho một cán cân quyền lực thuận lợi hơn cho Mỹ ở tất cả các khu vực theo thời gian.

Trump phát biểu trước các nhân viên trên hàng không mẫu hạm USS George Washington tại căn cứ hải quân Mỹ ở Yokosuka, Nhựt Bổn, ngày 28 tháng Mười năm 2025. Ảnh: Andrew Caballero-Reynolds/AFP via Getty Images

 

Điều này không có nghĩa là sách lược này hoàn hảo hoặc sẽ không gặp phải những thách thức nghiêm trọng. Có hai vấn đề đặc biệt có thể định hình di sản sách lược của chánh quyền Mỹ hiện tại. Vấn đề đầu tiên, rất có thể sẽ xuất hiện trong thời gian ngắn, liên quan đến phản ứng của các đối thủ. Luận lý cốt lõi của củng cố vị thế là câu giờ để đạt được vị thế tốt hơn, theo đó ngầm chấp nhận rủi ro trong ngắn hạn. Các đối thủ của Mỹ có thể nhìn thấu luận lý này cũng như viễn cảnh mà nó mang lại là một nước Mỹ mạnh hơn – và họ cũng có thể quyết định xem liệu điều đó có trở thành hiện thực hay không. Họ có thể lựa chọn tận dụng lợi thế của mình trong ngắn hạn để gây sức ép. Sự can dự ngoại giao chặt chẽ của Trump với Nga và Trung Quốc mang đến cho cả hai triển vọng khả thi về lợi ích chung – trong hợp tác kinh tế và ổn định sách lược – qua đó làm giảm động lực để đối đầu ngay lập tức và leo thang với Mỹ.

 

Thách thức thứ hai mang tính dài hạn hơn và liên quan đến các đồng minh của Mỹ. Ở mức độ lớn hơn bất kỳ yếu tố nào khác, ngoại trừ sự phục hưng trong nước, thành công của củng cố vị thế phụ thuộc vào việc xử dụng khéo léo các đồng minh. Các đồng minh không chỉ đóng vai trò thiết yếu trong việc gánh vác gánh nặng quốc phòng lớn hơn, mà còn trong việc tập hợp dân số, của cải, và đổi mới cho cuộc cạnh tranh công nghệ và công nghiệp dài hạn. Trung Quốc có lợi thế ban đầu nhờ quy mô của họ. Nhưng Mỹ có thể bù đắp bằng cách vừa huy động các đồng minh gánh vác gánh nặng quốc phòng lớn hơn, vừa tích hợp họ sâu hơn vào nền tảng công nghiệp và công nghệ của Mỹ. Các chánh sách của Trump đã tạo ra động lực mạnh mẽ để khiến nhiều đồng minh thay đổi các phương pháp an ninh và quy định cũ, vốn cản trở sức mạnh của phương Tây trong cạnh tranh địa chánh trị. Nhưng vẫn cần thêm nhiều năm làm việc để định hướng các hoạt động sôi nổi do những cú sốc của Trump tạo ra thành một khuôn khổ khả thi để tập hợp sức mạnh chống lại Nga và Trung Quốc.

 

Những bất ổn về phản ứng của các đối thủ và đồng minh cho thấy sách lược củng cố vị thế luôn tiềm ẩn rủi ro. Tuy nhiên, trái ngược với nhận định của nhiều chuyên gia phê bình, sách lược củng cố được nêu ra trong NSS nhìn chung phù hợp với đại sách lược truyền thống mà Mỹ đã theo đuổi từ những ngày đầu trở thành cường quốc. Đại sách lược đó có thể được tóm tắt là thống trị khu vực của mình trong khi duy trì cân bằng quyền lực ở ba khu vực lớn bên ngoài: Á châu, Âu châu, và Trung Đông. Nếu Mỹ có từng đi chệch khỏi mục tiêu đó, thì đó là vào thời hậu Chiến tranh Lạnh, khi nước này chấp nhận luận lý bành trướng, cố gắng biến đổi toàn bộ thế giới, kể cả các đối thủ, theo hình ảnh của mình. Bằng cách từ bỏ mục tiêu rõ ràng là không thể đạt được đó, NSS mới hướng tới một mục tiêu khiêm tốn, nhưng khả thi hơn. Ở mức độ lớn hơn bất kỳ cường quốc nào khác hiện nay, Mỹ – nhờ lợi thế đặc biệt về địa lý, kinh tế và dân số – có năng lực thực hiện kiểu ‘phục hưng quốc gia’ này với xác suất thành công khá cao.

Cuối cùng, những ưu điểm của sách lược củng cố vị thế cần được cân nhắc so với các lựa chọn thay thế. Một sách lược biệt lập công khai – điều mà NSS không theo đuổi – có thể gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu mà Washington đang cố gắng tránh. Trong khi đó, việc vượt lên trên cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc bằng con đường tự do để tiến tới hòa hợp toàn cầu, thông qua luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương, là một giấc mơ hão huyền. Cũng không thể giả vờ rằng đánh đổi là không cần thiết, và rằng Mỹ có thể đơn giản bỏ qua khoản nợ quốc gia 38 ngàn tỷ đô-la và vượt qua tình thế lưỡng nan trên nhiều mặt trận bằng cách đột ngột tăng ngân sách quốc phòng lên gấp nhiều lần. Chúng ta có thể sớm rơi vào tình huống đó nếu chiến tranh toàn cầu xảy ra, nhưng trách nhiệm của các nhà lãnh đạo Mỹ là phải cố gắng tránh kịch bản đó theo những cách đặt sự an toàn và phúc lợi của người dân Mỹ lên làm mục tiêu cao nhứt. Chủ động đối mặt với những đánh đổi và củng cố vị thế của Mỹ là điều mà NSS mới đang cố gắng thực hiện. Và tất cả chúng ta nên kỳ vọng sách lược này sẽ thành công.

 

A. Wess Mitchell là chuyên gia tại The Marathon Initiative, cựu trợ lý ngoại trưởng phụ trách Âu châu và Á-Âu trong chánh quyền Trump nhiệm kỳ đầu tiên, và là tác giả cuốn sách “Great Power Diplomacy: The Skill of Statecraft from Atilla the Hun to Kissinger.”

 

(Huy Le phụ đính)

 

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận