Thành ngữ điển tích: Giấc Kê Vàng và Các Giấc…

  

                 GIẤC KÊ VÀNG và CÁC GIẤC…

                         

                    Ôi, nhân sinh là thế ấy,

                    Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao.

                    Ba mươi năm hưởng thụ biết chừng nào,

                    Vừa tỉnh giấc NỒI KÊ chửa chín.

  

       Đó là 4 câu thơ mở đầu cho bài hát nói Vịnh Nhân Sinh của cụ Nguyễn Công Trứ, chỉ nhân sinh vốn dĩ phù du mộng ảo như một Giấc kê Vàng, mà khi tỉnh giấc rồi nồi kê vẫn còn chưa chín!  

      KÊ là một loại ngũ cốc, ta gọi là lúa Mì, lúa Mạch, có màu vàng; nên còn gọi là KÊ VÀNG, từ Hán Việt là HOÀNG LƯƠNG 黃梁, như khi bị Ưng Khuyển bắt về giao nạp cho Hoạn Bà, Thúy Kiều mới:

 

                   HOÀNG LƯƠNG chợt tỉnh hồn mai,

                   Cửa nhà đâu tá lâu đài nào đây ?

      Giấc Kê Vàng hay Hoàng Lương Mộng 黃梁夢 có điển tích như sau:

      

      Theo Chẩm Trung Ký 枕中記, Đường Khai Nguyên năm thứ 7, có chàng Lư Sinh, người xứ Hàm Đan, sau khi thi rớt bèn về quê canh tác. Một hôm đang ngồi trong quán ven đường, thì có một đạo sĩ họ Lữ cũng ghé lại ngồi chung bàn. Hai người cùng trao đổi và bàn bạc về nhân sinh rất là tâm đắc. Bỗng Lư Sinh nhìn xuống áo quần lam lũ của mình mà cảm khái nói: “Đại trượng phu sống trên đời mà không đắc chí, đến nổi phải như thế nầy!” Đạo sĩ nói: “Trông anh rất khỏe mạnh, ăn nói lại rất uyên bác, có điều gì còn phải than thở nữa?” Lư Sinh đáp: “Kẻ sĩ sống trên đời phải giương danh lập nghiệp, không làm quan văn thì cũng phải là võ tướng; như tôi đây học cả lục nghệ: Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số, lại phải chịu đi cày ruộng khốn khó thế nầy, nghĩ có ức không? “Bàn luận một hồi lâu, vừa buồn vừa nản, Lư Sinh lại thấy buồn ngủ khi đang đợi chủ quán bắt nồi kê vàng lên nấu, bèn nằm xuống sạp mà ngủ. Đạo sĩ họ Lữ lấy trong bọc ra một cái gối cho chàng nằm. Lư Sinh nghiêng đầu nằm lên gối ngủ thiếp đi, chợt chàng thấy có ánh sáng phát ra từ cái lổ trống bên gối, ánh sáng và khoảng trống lớn dần, chàng bèn nhảy vào trong ánh sáng đó, thì thấy mình đã về đến nhà. 

Mấy tháng sau có người làm mối cho chàng cưới con gái nhà họ Thôi, thuộc gia đình giàu có lại rất trẻ đẹp, nên chàng rất yên tâm mà dồi mài kinh sử. Năm sau lai kinh ứng thí, lại đậu ngay Tiến sĩ. Nhà vua phái đi làm Huyện Úy của huyện Vị Nam, không bao lâu lại được thăng làm Giám Sát Ngự Sử, lại được chuyển làm Khởi Cư Xá Nhân Tri Chế Cáo. Ba năm sau, lại thăng làm Trưởng Quan của đất Thiểm. Lư Sinh lại thích về thủy lợi, nên mở kinh đào 80 dặm cho đất Thiểm Tây, giải quyết vấn đề giao thông đường thủy cho dân chúng, nên dân chúng vùng đó làm bia ca tụng công đức. Lại được cải nhậm làm Trưởng Quan ở Biện Châu, làm Thái Phỏng Sứ ở Hà Nam Đao. theo lời triệu của nhà vua về Kinh Thành làm Kinh Triệu Doãn. Năm đó Huyền Tông hoàng đế chinh phạt Nhung Địch, mở rộng biên cương, nhằm lúc Tiết Độ Sứ Vương Quân bị giết, nhà vua cần nhân tài đến thay thế, mới lệnh cho Lư Sinh làm Ngự Sử Trung Thừa kiêm Tiết Độ Sứ đất Hà Tây. Lư Sinh cầm quân đại phá quân địch, mở rộng thêm biên cương chín trăm dặm, xây thêm ba thành trì để củng cố bờ cõi. Nhân dân một dãy biên cương lập bia ca ngợi công đức. Ban sư về triều, luận công phong thưởng, nhà vua lại thăng làm Lại Bộ Thị Lang lại thuyên phong Hộ Bộ Thượng Thư kiêm Ngự Sử Đại Phu. Trong một lúc mà danh vọng lên cao đến tột đỉnh. Trong khi mọi người đều hâm mộ thì Tể Tướng đương triều lại đố kỵ, phao tin thất thiệt là Lư Sinh ỷ công hống hách không xem ai ra gì, nên vua mới đày đi làm Thứ Sử Đoan Châu. Ba năm sau, Vua xét oan tình cho về kinh phục chức Thường Thị, hầu cận bên vua, ít lâu sau lại được thăng làm Tể Tướng, cùng ngang hàng với các Tể Tướng đương thời là Tiêu Tung, Bùi Quang Đình, giúp nhà vua chấp chánh và thực thi sách lược an dân, được tiếng là Thừa Tướng giỏi. Nhưng lại bị đồng liêu tạo chứng cứ giả, vu cho thông đồng với các tướng ở biên cương định mưu phản. Nhà vua lại hạ lệnh bắt hết cả nhà giam vào ngục tối, tịch biên toàn bộ gia sản. Lư Sinh rất kinh hoàng nói với vợ con rằng: “Gốc gác nhà ta ở Sơn Đông, có đến 5 khoảnh ruộng, đủ để nuôi sống cả nhà một cách sung túc, đâu cần phải theo đuổi công danh phú quý mà chi để cho đến bây giờ nhà tan cửa nát, muốn sống yên thân bình thường cũng không được!” Nói xong bèn rút dao ra khứa cổ tự vẫn, may mà Thôi Thị giựt dao lại kịp mới không chết, nhưng những người liên can đều bị xử tử hình. Nhà vua xét trong quá khứ có công nên miễn cho tội chết, chỉ đày đi Hoan Châu lao dịch.

     Năm năm sau, vua xét thấy oan tình, bèn triệu về kinh cho phục chức Tể Tướng, sách phong Yên Quốc Công, được hưởng ân sủng đặc biệt của nhà vua. Lư Sinh sinh được năm trai, tất cả đều hiễn đạt. Con cả Lư Kiệm đỗ Tiến sĩ, con thứ Lư Truyền làm chức Ngự Thị Lang, con thứ ba Lư Vị là Thái Thường Thừa, thứ tư Lư Châu làm Vạn niên Huyện Úy, con trai út Lư Ỷ mới 28 tuổi đã giữ chức Tả Nhưỡng. Các thông gia đều là bậc quyền quý, cháu nội gần hai mươi đứa đều rất ngoan hiền. Cuộc sống vinh hoa phú quý của Lư Sinh kéo dài đến hơn 80 tuổi mới nhuốm bệnh mà qua đời…

       Bấy giờ, Lư Sinh mới trở mình và ngáp dài một cái thức dậy. Mở mắt ra thấy đạo sĩ họ Lữ còn ngồi bên cạnh, và nồi kê mà chủ quán đang nấu vẫn còn chưa chín, mọi vật chung quanh đều vẫn y như cũ. Lư Sinh hoảng loạn như vừa từ thế giới khác trở về, hỏi rằng: “Đó chỉ là giấc mộng thôi sao? “Lữ đạo sĩ đáp rằng: “Cái huy hoàng nhất của cuộc đời chẳng qua cũng chỉ như thế mà thôi!” Lư Sinh vô cùng cảm khái mà tạ rằng: “Vinh nhục của cuộc đời, cùng thông của vận mệnh, cái lý của được và mất, cái tình của sống và chết, ta đều đã trải nghiệm cả rồi. Cám ơn đạo sĩ đã điểm hóa cho ta, sao ta lại còn không tỉnh ngộ chứ?!” Bèn lạy ta đạo sĩ mà đi. Từ đó về sau không còn bận tâm về công danh phú quý nữa.

      

       Ông bà ta cũng thường nói  “Trăm năm một giấc kê vàng” để chỉ cuộc đời dù vinh dù nhục, dù phú quý hay bần tiện, dù thành công hay thất bại… rốt cuộc rồi cũng thoáng qua như một giấc mộng mà thôi!  

      

       Ngoài Giấc Nam Kha, Giấc Kê Vàng ra, ta còn có GIẤC BƯỚM , GIẤC HỒ hay GIẤC ĐIỆP đều có cùng một nghĩa như nhau. Vì Bướm từ Hán Việt là Hồ Điệp 蝴蝶, Hồ Điệp là Bướm, theo như tích sau đây:

Tề Vật Luận trong sách Trang Tử 莊子·齊物論 có ghi lại câu chuyện sau đây: Trang Chu hay nằm mơ thấy mình hóa ra bươm bướm, tiêu dao tự tại bay múa dạo chơi khắp nơi. Khi tỉnh lại rồi thì còn ngờ ngợ tự hỏi rằng: “Không biết là Trang Chu ta hóa ra bươm bướm, hay là bướm bướm đã hóa ra Trang Chu ta đây?!” Có nghĩa là mộng cũng như thực mà thực cũng như mộng.  Nhưng sau dùng rộng ra đều có nghĩa là giấc ngủ mơ màng mà ta hay nghe nói là  “Mơ Màng Giấc Điệp”, hay như lời hiểu lầm của Thiện Sĩ trong Quan Âm Thị Kính:

                     Chàng rằng: GIẤC BƯỚM vừa say,

                    Dao con nàng bỗng cầm tay gần kề.

 

   hay như trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện:

                     GIẤC HỒ nửa gối mơ màng,

               Chiền đầu đã lọt tiếng chuông mái trường.

 

    Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng đã thoát dịch hai câu đầu bài Phong Kiều Dạ bạc của Trương Kế là: “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên” bằng giấc ngủ chập chờn với:

 

                     Trăng tà tiếng quạ kêu sương,

                  Lửa chài cây bến sầu vương GIẤC HỒ.

 

    Ngoài GIẤC HỒ GIẤC BƯỚM ta còn có GIẤC MAI, là “giấc ngủ dưới cây mai”cũng dùng để chỉ những giấc ngủ ngon, ngủ say trong mộng, theo như điển tích sau đây:

         Theo sách Long Thành Lục 龍城錄 : Triệu Sư Hùng 趙師雄 người Khai Hoàng đời Tùy, trong một buổi chiều trời lạnh lẽo đi ngang qua núi La Phù. Đang cơn tỉnh say, ghé xe vào một tửu quán ven đường, có người con gái ăn mặc đồ trắng giản dị ra tiếp đón. Lúc trời vừa tối hẵn, tuyết bắt đầu tan trong ánh trăng nhàn nhạt. Sư Hùng tiếp chuyện với nàng, người đẹp ăn nói văn hoa lại thoang thoảng có hương thơm nhẹ, bèn cùng nhau uống dăm ba chén rượu. Chốc lát lại có một đồng tử ăn mặc màu xanh lục đến ca múa giúp vui. Sư Hùng uống say, mơ hồ ngủ đi lúc nào không biết. Khi cảm thấy hơi gió lạnh thổi, giật mình thức giấc thì trời đã hừng đông. Nhìn lại thì thấy mình đang nằm ngủ dưới gốc cây mai lớn, trên cây lại có con chim oanh đang hót líu lo, trăng tàn rơi rụng mà lòng những bàng hoàng.               

       GIẤC MAi thường dùng để chỉ giấc ngủ mê man ngon lành, như lúc Thúy Kiều được sư Giác Duyên vớt từ dưới sông Tiền Đường lên còn đang mê man trong giấc ngủ sau khi đã gặp Đạm Tiên:

                   Giật mình thoát tỉnh GIẤC MAI,

                Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn,

                   Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên,

                Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.

 

     Sau GIẤC MAI, ta còn có GIẤC XUÂN là Xuân Mộng 春夢 theo như thơ của Bạch Cư Dị:

              來如春夢不多時,   Lai như xuân mộng bất đa thì,

              去似秋雲無覓處。 Khứ tự thu vân vô mịch xứ.

Có nghĩa :

           Đến tựa mộng xuân trong thoáng chốc,

           Đi như mây nổi biết về đâu.

 

      GIẤC XUÂN là giấc ngủ vô tư ngon lành không lo nghĩ như Thúy Vân trong Truyện Kiều. Chị bán mình mặc chị, em thì em vẫn ngủ ngon lành:

                  Thúy Vân chợt tỉnh GIẤC XUÂN,

                 Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han.

 

     Cuối cùng, ta còn có GIẤC HÙNG. HÙNG 熊 là con gấu, nên Giấc Hùng là nằm chiêm bao thấy gấu. Theo Kinh Thi chương Tiểu Nhã có câu:

                Duy hùng duy bi,    維熊維羆,

                Nam tử chi tường.   男子之祥.

Có nghĩa :

           Chỉ có hai con hùng và con bi, (là hai loài gấu).

           Là điềm sẽ sanh được con trai.

 

     Nên GIẤC HÙNG là giấc ngủ chiêm bao thấy gấu là điềm sẽ sanh được con trai, như trong thơ của Hoàng Sĩ Khải:

                      Điềm lành sớm ứng HÙNG BI,

                  Trăm trai đầy rẫy khác gì Lạc Long.

 

     hay như trong truyện Phương Hoa với:

                      GIẤC HÙNG hai thấy xa xa,

                  Cả là Cảnh Tĩnh, thứ là Cảnh Yên.

 

                    

 Từ điển tích trên, ta còn có một thành ngữ thường gặp trong văn học cổ là PHI HÙNG NHẬP MỘNG 飛熊入夢 là Con gấu có cánh bay vào mộng, nghĩa là: Nằm mơ thấy gấu bay. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên có ghi như sau:

Cuối đời nhà Thương, Châu Văn Vương Cơ Xương cần tìm một nhân tài để phò tá, nhưng tìm mãi chưa được. Một đêm ông nằm mộng thấy có một con gấu có cánh bay vào trong lòng. Ngày hôm sau, quan Chiêm Bốc bói quẻ, cho biết là sẽ tìm được nhân tài phò trợ. Châu Văn Vương mới dẫn một đoàn người ngựa đi dọc theo dòng sông Vị và tìm gặp Khương Thượng, tự là Tử Nha, hiệu là Phi Hùng (gấu bay), ứng với điềm trong mộng. Từ đó, Châu Văn Vương như hùm thêm cánh, tiêu diệt nhà Thương và dựng nên nhà Châu gần 800 năm.

Nên PHI HÙNG NHẬP MỘNG là chỉ vua chúa tướng soái gặp được người tài giỏi phò trợ; như giám đốc mà tìm được phụ tá giỏi vậy!

 

“GIẤC NAM KHA” 

NAM KHA THÁI THÚ TRUYỆN

Một đoàn người ngựa với khí thế hiên ngang cùng tiến thẳng về quận Nam Kha. Nghe có Thái Thú mới đến trấn nhậm tất cả quan viên và những bậc đức cao vọng trọng cùng dân chúng đều kéo ra thành để nghinh tiếp thật là long trọng rình rang. Sau khi nhậm chức, Thuần Vu Phần rất chăm chỉ việc quan, xem xét nhân tình phong hóa của địa phương, chăm lo đến đời sống của nhân dân trong quận, lại được sự hỗ trợ khuyến khích của công chúa bên trong, còn bên ngoài thì có Châu Biền và Điền Tử Hoa giúp đỡ, nên chẳng bao lâu, đời sống của dân chúng được nâng cao hẳn lên. Mọi người dân đều ca tụng công đức của Thái Thú, tiếng đồn đến kinh đô, nhà vua và hoàng hậu cũng rất vui lòng. Vua lại ban hàm phong cho Thuần Vu Phần được ngang hàng với Tam Công Tể Tướng trong triều.

Cứ thế, hai mươi năm trôi qua, Thuần Vu Phần và công chúa sanh được năm trai hai gái, tất cả đều khôn lớn và nên người. Nhờ có phụ ấm, nên con trai cũng hiển đạt làm quan và con gái thì cũng gả về cho các bậc vương hầu quyền quý. Quả là “Một cây cù mộc một sân quế hòe !” như cụ Nguyễn Du đã tả trong Truyện kiều.

Năm đó, có quân của Đàn La Quốc đến xâm lược. Thuần Vu Phần phái Châu Biền cầm quân chống cự. Châu Biền tuy già nhưng dũng mãnh phi thường dẫn quân tiến sâu vào lòng địch, chẳng may bị địch phục kích. Bại trận bị thương, về dinh mấy hôm thì mất. Công chúa lo buồn nên cũng nhuốm bệnh, ít lâu sau cũng qua đời. Nhờ có Điền Tử Hoa đẩy lui được quân địch. Nhưng trước cảnh chiến tranh điêu tàn, công chúa lại mất. Thuần Vu Phần giao quận Nam Kha lại cho Điền Tử Hoa rồi từ chức đưa linh cữu của công chúa về kinh. Nhà vua thương con, phong thụy là Thuận Nghi Công Chúa, nhưng lại lạnh nhạt với Thuần, nên cả triều bá quan văn võ qua lại hai mươi năm nay rất thân thiết đều tỏ ra tẻ nhạt với Thuần. Buồn tình nên Thuần tối ngày chỉ biết uống rượu tiêu sầu. Nhà vua cũng đâm ra bực mình nên truyền lệnh đuổi chàng về quê cũ. Thuần Vu Phần mới giật mình suy nghĩ đây là nhà của mình rồi còn về quê cũ nào nữa ?!

Khi xe tứ mã đưa Thuần Vu Phần ra khỏi hang động dưới gốc cây hòe, thì chàng ta mới mơ mơ hồ hồ lúc đầu cũng từ hang động nầy đi vào Đại Hòe An Quốc. Còn đang ngơ ngơ ngẩn ngẩn thì nghe tiếng gọi giật ngược bên tai của hai gia nhân đang quét dọn trong sân. Bừng tỉnh mở mắt ra thì thấy hai người bạn nhậu vẫn còn ngồi đó rửa chân, trên bàn đồ ăn và rượu thừa vẫn còn rơi vãi đầy ra đó. Ánh nắng buổi ban chiều còn chưa tắt hẳn, vài tia nắng yếu ớt còn len lỏi qua tàn lá của cây hòe rậm rạp ở góc sân. Cảm khái trước giấc mơ dằng dặc hiếm có như sống cả một đời của mình chỉ diễn ra trong một hai thời khắc của nhân sinh, Thuần bèn kể lại cho hai người bạn nghe. Tất cả đều cùng ngạc nhiên và cùng đi đến gốc của cây hòe to lớn thì thấy có một hốc cây thật to bên có mấy con kiến bò qua bò lại. Thuần bèn cho gia nhân đào sâu vào, thì lại thấy có một ổ kiến thật to, có con kiến vương đầu đỏ mình trắng giống như là nhà vua trong giấc mơ, đào về phía nam lại thấy có một ổ kiến nhỏ, giống như là quận Nam Kha của mình trấn nhậm trong mơ, xa xa xéo một bên lại có một ổ kiến đen đã bỏ đi chỉ còn xót lại vài con, giống như là Đàn La Quốc đã đem binh xâm lược quận Nam Kha trong mơ vậy. Thuần Vu Phần vô cùng cảm khái, cho gia nhân lấp ổ kiến lại một cách cẩn thận như cũ mà không cho phá đi.

Thuần Vu Phần lại chợt nhớ đến hai người bạn mà mình đã gặp trong mơ, bèn cho người đến thăm nom thì mới biết rằng Châu Biền đã nhuốm bệnh mà chết còn Điền Tử Hoa thì đang nằm thoi thóp trên giường bệnh chưa biết sống chết ra sao. Thuần Vu Phần cảm khái cho cuộc đời hư ảo tựa khói tựa mây, phú quý vinh hoa như một giấc mộng dài. Cho nên, tự đó về sau chỉ chuyên tâm tu đạo, không uống rượu, không gần nữ sắc, theo thuyết thanh tịnh vô vi. Ba năm sau thì mất khi tuổi mới vừa 47, là tuổi trung bình của người đời lúc bấy giờ.

 

NAM KHA THÁI THÚ TRUYỆN

Vì trong giấc mộng Thuần Vu Phần thấy mình được làm Thái Thú của quận Nam Kha, nên người đời thường gọi là ” GIẤC NAM KHA “, và vì nằm ngủ gần gốc cây Hòe, nên còn gọi là GIẤC HÒE, như trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, khi tả Thúy Kiều ” Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình ” để qua thăm Kim Trọng :

Gót sen sẻ động GIẤC HÒE,

Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.

hay như trong Bích câu kỳ Ngộ, anh chàng Tú Uyên sau khi gặp giáng Kiều trở về đã mang bệnh tương tư :

Lầu trăng ngơ ngẩn ra về,

Đèn thông khêu cạn GIẤC HÒE chưa nên !

hay còn gọi là GIẤC HÒE AN vì Thuần Vu Phần mơ thấy mình lạc đến Hòe An Quốc, như trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của ông vua Lê Thánh Tông:

Phú quý bao nhiêu người thế gian,

Mơ mơ bằng thuở GIẤC HÒE AN.

Sau Giấc Nam Kha, Giấc Hòe, Giấc Hòe An… ta còn có Giấc kê vàng, Giấc Hoàng Lương, Giấc Bướm, Giấc Mai, Giấc Xuân… Mời đọc tiếp trong bài viết tới cho đủ… GIẤC !

 

Nam Kha nhất mộng

Nam Kha nhất mộng 南柯一夢 hay còn gọi là “giấc mộng hoa hè” là một thành ngữ gốc Hán, có nghĩa giấc mộng phù hoa chỉ là hư ảo. Nó nhấn mạnh sự vô thường của cuộc đời, rằng một đời người sẽ liên tục biến đổi, hư vinh được mất bao nhiêu cũng chỉ là thứ dễ đến dễ đi, thường mang theo ngữ khí cảm thán.

Nam Kha nhất mộng xuất phát từ “Nam Kha Thái Thú truyện” của Lý Công Tá. Tương truyền, đời Đường có một học trò tên là Thuần Vu Phần, tính cách phóng khoáng, thích uống rượu. Ngoài tường phía nam nhà anh ta có một cây hoè cổ cành lá xum xuê. Một ngày nọ, Thuần Vu Phần cùng bạn bè uống rượu dưới gốc cây, uống đến mức say khướt. Trong cơn mơ màng, Thuần Vu Phần thấy hai sứ giả mặc áo tím bước vào, mời anh ta đến nước Hoè An. Quốc vương và anh ta trò chuyện, ông tỏ ra tán thưởng tài năng của Thuần Vu Phần, chẳng bao lâu phong anh ta làm “thái thú Nam Kha” và gả công chúa cho Thuần Vu Phần. Thế là anh ta trở thành người quyền cao chức trọng, được nhân dân và quốc vương tín nhiệm trong ba mươi năm đầu. Không ngờ nước Đàn La đột nhiên tấn công, quốc vương lệnh cho Thuần Vu Phần mang quân xuất chinh, nhưng vì không giỏi việc binh đao nên nước Hòe An bị đánh bại thảm hại. Khi trở về, anh ta hay tin vợ mình đã qua đời, quốc vương cũng không còn tin tưởng anh ta nữa. Cuối cùng Thuần Vu Phần bị cách chức và bị trục xuất về quê hương. Hai sứ giả từng đưa Thuần Vu Phần đến nước Hòe An đưa anh ta trở về. Chợt tỉnh giấc, Thuần Vu Phần mới biết đó là một giấc mộng. Mặt trời vẫn chưa lặn, rượu trên bàn vẫn còn. Anh ta vội đào thử một cái hang dưới gốc hòe thì phát hiện trong đó có một ổ kiến lớn, những gò đất bên trong cũng giống với cung điện thành quách, ngoài cung có một lối nhỏ thông lên cành cây phía nam, hẳn đó là nơi anh ta từng làm thái thú Nam Kha. Thuần Vu Phần thở dài than rằng: “Vinh hoa phú quý ba mươi năm, hóa ra chỉ là một giấc mộng Nam Kha.” Cuối cùng Thuần Vu Thần giác ngộ, quy ẩn cửa đạo.

Bên cạnh đó, có một thành ngữ khác cũng mang ý giấc mơ đẹp nhưng khó thành hiện thực giống với Nam Kha nhất mộng, đó là 黄粱美夢 Hoàng lương mỹ mộng, hay còn gọi là “giấc mộng kê vàng”. Cả hai thành ngữ này đều thường xuyên xuất hiện trong văn học cổ điển nên hay được xem là hai thành ngữ đồng nghĩa. Tuy nhiên, hai thành ngữ này lại không hoàn toàn giống nhau.

Cụ thể, hoàng lương mỹ mộng 黄粱美夢 (hay hoàng lương nhất mộng) được dùng để ví cho giấc mộng đẹp hay dục vọng viển vông, không thể thành hiện thực. Thông thường, nó kết hợp với cấu trúc câu phủ định để nhấn mạnh sự tan biến của giấc mộng hão huyền, những tham vọng xa vời, ảo tưởng không thực tế.

Hoàng lương mỹ mộng xuất phát từ “Chẩm trung ký” của Trầm Ký Tế thời Đường. Chuyện kể về nho sinh tên Lư Sinh dừng chân tại một quán trọ trên đường đi qua Hàm Đan. Một lão đạo sĩ cũng ghé vào nghỉ chân. Trong lúc cả hai nói chuyện, Lư Sinh than thở về cuộc sống nghèo khó của mình. Lữ Ông bèn lấy một cái gối từ trong hành lý của mình ra đưa cho anh ta, nói rằng: “Chỉ cần cậu gối đầu ngủ trên cái gối này, cậu sẽ có được vinh hoa phú quý. Lúc này, chủ quán trọ đang nấu kê vàng (một loại gạo kê màu vàng). Lư Sinh ngủ thiếp đi và mơ thấy cả một cuộc đời huy hoàng: Cưới được tiểu thư cao quý của Thôi phủ, đỗ tiến sĩ, dần thăng quan tiến chức từ Tiết độ sứ, Ngự sử Đại phu đến chức Tể tướng, 5 người con đều làm quan lớn, mười mấy cháu trai thông minh xuất chúng, con cháu đầy đàn, sống đến hơn 80 tuổi mới qua đời. Khi tỉnh dậy, Lư Sinh phát hiện nồi kê vàng của quán trọ vẫn chưa chín thì vô cùng kinh ngạc. Lữ Ông cười bảo: “Mọi huy hoàng của đời người, cuối cùng cũng chỉ như thế thôi!”

Cả hai thành ngữ giống nhau ở điểm là đều xuất phát từ truyện truyền kỳ thời Đường, cốt truyện ngắn gọn và liên quan đến giấc mơ. Cả hai nho sinh đều cùng trải qua vinh hoa phú quý trong mơ, trong khi thời gian ở thực tế lại rất ngắn. Tuy nhiên điểm khác nhau là dù hoàng lương mỹ mộng có vài biến cố nhưng chung quy, giấc mộng của Lư Sinh khá suôn sẻ, cuối cùng vẫn đạt được đỉnh cao nhân sinh vì anh ta vốn khao khát công danh, tiền tài, cảm thấy bất mãn với thực tại nên mới mơ một giấc mơ đầy tham vọng. Trong khi giấc mơ của Thuần Vu Phần lại có sự thăng trầm rõ rệt, từ địa vị cao sang rơi xuống đáy vực sâu, từ thái thú Nam Kha trở thành kẻ bị trục xuất. Cho nên “hoàng lương mỹ mộng” là thành ngữ mang tính phê phán, ám chỉ sự hoang tưởng và giấc mộng viển vông. Còn Nam Kha nhất mộng thì mang nhiều cảm thán, tiếc nuối, nhấn mạnh sự thăng trầm của cuộc đời.

Trong văn học cổ điển Việt Nam, hai thành ngữ này không có sự phân biệt nghĩa quá rõ ràng. Các cụm từ như mộng hoa hòe, giấc hòe, mộng Nam Kha, giấc kê vàng, mộng hoàng lương,… đều được dùng với nghĩa như nhau, ý chỉ mọi vinh hư được mất trong đời đều chỉ như giấc mộng.

Ví như trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết rằng:

“Sinh vừa tựa án thiu thiu

Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê

Tiếng sen sẽ động giấc hoè

Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.”

Hay:

“Vực nàng tạm xuống môn phòng

Hãy còn thiêm thiêm giấc nồng chưa phai

Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai

Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây?”

Nguyễn Gia Thiều cũng viết trong Cung oán ngâm khúc rằng:

“Giấc Nam Kha khéo bất bình,

Bừng con mắt dậy, thấy mình tay không.”

Thực ra mộng không phải chỉ để mộng mà còn để soi chiếu đời thực, nhờ đó mà người ta nhận ra sự phù phiếm của quyền thế, sự mong manh của vinh hoa và sự vô thường của những kiếp người. Mộng Nam Kha hay mộng kê vàng đều là tiếng thở dài đẹp nhất của văn chương cổ điển. Có lẽ vì thế mà tự cổ chí kim, độc giả vẫn luôn xuyến xao trước một giấc kê vàng, vẫn còn thấy mình lạc bước trong thành quách của gốc cây hòe cổ. Mà lại có sao đâu? Được mộng, được yêu, được sống, được mất, được tiếc nuối một lần như thế… cũng đã là một đời rất thơ.

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận