Úc không dễ dàng giảm bớt sự phụ thuộc quân sự vào Mỹ, nhưng với Gia Nã Đại, nước Úc có thể giảm thiểu rủi ro.

Maya Alleruzzo/AP, Lukas Coch/AAP, The Conversation

 

 (Ảnh: Maya Alleruzzo/AP, Lukas Coch/AAP, The Conversation)

 

ÚC ĐẠI LỢI/THẾ GIỚI –  Thủ tướng Gia Nã Đại, Mark Carney, đã đưa ra một lời cảnh báo gay gắt trong bài phát biểu trước Nghị Viện Úc Đại Lợi. Ông nói rằng trật tự toàn cầu thời hậu chiến đang “sụp đổ”, và các cường quốc tầm trung như Gia Nã Đại và Úc Đại Lợi có nguy cơ bị lệ thuộc do sự hội nhập với các cường quốc lớn như Hoa Kỳ.

 

Nhưng Úc và Hoa Kỳ gắn bó chặt chẽ đến mức nào, và liệu con đường của Gia Nã Đại có phải là con đường chúng ta (nước Úc) nên đi theo?

 

Gia Nã Đại và Úc là “những người anh em họ chiến lược” ( “strategic cousins”), với nhiều điểm chung và lợi ích chung. Cả hai quốc gia đều trải dài trên khắp các châu lục và giáp Thái Bình Dương. Cả hai đều theo nền kinh tế thị trường tự do, cùng theo hệ thống luật dựa trên án lệ (hệ thống luật Anh-Mỹ: common-law), thành viên sáng lập của Liên Hợp Quốc, đối tác của nhóm Ngũ Nhãn (Five Eyes), và là đồng minh vô cùng thân cận của Hoa Kỳ.

 

Và cả hai đều là các cường quốc tầm trung hoạt động tích cực trong các thể chế quốc tế và được hưởng lợi từ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ mà họ đã giúp tạo ra.

Thủ tướng Gia Nã Đại, Mark Carney, đã thực hiện chuyến thăm Úc đầu tiên của một thủ tướng của Gia Nã Đại trong gần 20 năm. Adrian Wyld/The Canadian Press/AP

 

Tuy nhiên, khi nói đến mối quan hệ với Mỹ, vẫn có một số khác biệt. Úc từ lâu đã có “nỗi sợ bị bỏ rơi” từ Mỹ, trong khi Gia Nã Đại trong lịch sử lại lo lắng hơn về việc bị mắc kẹt và sự dễ bị tổn thương của chủ quyền quốc gia.

Mối lo ngại của người Gia Nã Đại bắt nguồn từ đường biên giới chung lâu đời với Mỹ: nếu họ không thể hoặc không muốn bảo vệ biên giới của mình, Mỹ có thể làm điều đó thay họ, dù họ có thích hay không.

Tuy nhiên, dưới thời các thủ tướng kế nhiệm, chi tiêu quốc phòng của Gia Nã Đại đã bị thu hẹp đến mức Tổng thống Mỹ Donald Trump đã làm nhục người tiền nhiệm của Carney bằng cách gọi ông ta chỉ là “thống đốc” của “tiểu bang thứ 51”.

Người Gia Nã Đại đã rất phẫn nộ, lòng tự trọng của họ bị tổn hại. Tình cảm đó càng được củng cố bởi các mức thuế tùy tiện mà Tổng thống Trump đánh lên Gia Nã Đại. Nỗ lực trở thành cường quốc tầm trung của Carney cần được nhìn nhận phần nào qua lăng kính này. Mặc dù Gia Nã Đại đang tìm cách đa dạng hóa quan hệ đối tác với các cường quốc tầm trung khác (bao gồm cả Úc), nhưng nước này không thể hoàn toàn tách rời khỏi thương mại với nước láng giềng. Gần 80% hàng xuất cảng của Gia Nã Đại là sang Mỹ.

Vì vậy, lợi ích lâu dài của Gia Nã Đại vẫn gắn bó chặt chẽ với lợi ích của Mỹ, mặc dù hiện tại Gia Nã Đại không cảm thấy như vậy.

 

Tại sao Mỹ cần Úc?

Mặc dù có nhiều điểm tương đồng, nhưng tình thế của Úc cũng khác với Gia Nã Đại. Thủ tướng Anthony Albanese hiểu điều này.

Úc là một quốc gia, phần lớn là người gốc Anh-Âu di cư, nằm ở rìa Á châu, nơi một Trung Quốc đang trỗi dậy và độc đoán ngày càng mở rộng ảnh hưởng và lợi ích của họ.

Điều này từ lâu đã biến Úc thành đối tác sách lược và quân sự quan trọng của Hoa Kỳ. Điều này không thay đổi, ngay cả với luận điệu “Nước Mỹ trên hết” của Trump, sự chuyển hướng trọng tâm sang Tây bán cầu và việc phát động một cuộc chiến mới ở Trung Đông gần đây.

Trump sẽ không từ bỏ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cho Trung Quốc. Ông ấy muốn “cạnh tranh thành công ở đó”, như Sách lược An ninh Quốc gia Hoa Kỳ năm 2025 đã nêu. Điều này đòi hỏi duy trì năng lực răn đe quân sự mạnh mẽ, với các đồng minh khu vực chủ chốt làm nhiều hơn nữa để giúp ngăn ngừa chiến tranh.

Mỹ coi Úc là vô cùng quan trọng đối với năng lực răn đe này. Và Mỹ đầu tư vào Úc nhiều hơn so với những gì mọi người nhận ra.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là không có sự điều chỉnh nào kể từ khi ông Trump lên nắm quyền.

Bộ trưởng Ngoại giao Penny Wong đã trình bày một chánh sách đối ngoại mới dựa trên “bốn chữ R” – khu vực, quan hệ, luật lệ và năng lực phục hồi (region, relationships, rules, resilience). Bà nhấn mạnh liên minh với Mỹ được lồng ghép trong một mạng lưới quan hệ rộng lớn hơn, chứ không phải đứng độc lập.

Điều này phản ánh một cách tiếp cận thận trọng hơn, ít dựa trên phương pháp nhị nguyên đối với mối quan hệ. Úc không còn được coi là một đồng minh “phụ thuộc” hay “độc lập” nữa.

Thay vào đó, có một lập trường trung dung dành cho một cường quốc tầm trung như Úc. Chánh sách đối ngoại này thừa nhận sự phụ thuộc của Úc vào quân đội và tình báo Hoa Kỳ để răn đe, nhưng tích cực hơn trong việc bảo vệ lợi ích của chính mình, đặc biệt là ở Nam Thái Bình Dương và Đông Nam Á.

Bộ trưởng Quốc phòng của Úc và Papua New Guinea đã cùng nhau tham dự một cuộc họp an ninh song phương tại Brisbane vào tháng Hai năm 2025. Jono Searle/AAP

 

Tại sao Úc không thể dễ dàng thay thế Hoa Kỳ

Úc từ lâu đã duy trì một lực lượng quốc phòng tinh gọn. Với việc liên minh mạnh mẽ với Hoa Kỳ, Úc không cần phải chi tiêu quá nhiều cho quốc phòng hoặc ban hành nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Nước này chỉ cần bảo đảm quân đội của mình có công nghệ cao và năng lực tương tác (tương vận) với các đồng minh.

Mô hình này dựa trên sự tin cậy và quyền xử dụng liên tục với quân đội Hoa Kỳ về quân trang (chiến hạm, phi cơ, xe tăng, hệ thống phòng không và vũ trụ) và phần mềm (công nghệ để vận hành các hệ thống này và xây dựng khả năng thu thập thông tin tình báo và phòng thủ mạng mạnh mẽ).

Điều này bao gồm sự hợp tác với một loạt các công ty của Mỹ và việc mở rộng cơ sở cách tân về an ninh quốc gia tại Úc, một phần của thỏa thuận AUKUS.

Trong khi đó, các thủy thủ Úc đã được huấn luyện tại các cơ sở hải quân của Mỹ và hiện đang vận hành các tiềm thủy đỉnh chạy bằng năng lượng nguyên tử của Mỹ. Theo thỏa thuận AUKUS, những tiềm thủy đỉnh này sẽ được đóng tại căn cứ hải quân HMAS Stirling ở tiểu bang Tây Úc như một phần của Lực lượng Luân chuyển Tiềm Thủy đỉnh phía Tây (Submarine Rotation Force West), bắt đầu từ năm tới.

Các sĩ quan Hải quân Mỹ đứng gác trên tiềm thủy đỉnh tấn công nhanh lớp Virginia USS Minnesota sau khi cập cảng HMAS Stirling vào tháng Hai năm 2025. Colin Murty/AFP pool/AP

 

Mỹ và Úc cũng vận hành Cơ sở Quốc phòng Chung (Joint Defence Facility) tại Pine Gap, một căn cứ giám sát tình báo tín hiệu cung cấp những thông tin quan trọng về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và xa hơn nữa. Các chánh phủ Úc liên tiếp nhau đều coi cơ sở này là đáng để đầu tư.

Tất cả những điều này cho thấy Úc gắn bó chặt chẽ với Mỹ như thế nào về công nghệ quân sự, trang thiết bị và tình báo. Việc tìm kiếm các lựa chọn thay thế khác Mỹ sẽ rất tốn kém, cũng như việc vận hành song song các hệ thống cũ trong nhiều thập niên.

Các nguồn cung cấp trang thiết bị thay thế chính – trong đó có Nam Hàn, Nhựt Bổn, Thụy Điển và Đức Quốc – đều là đồng minh của Mỹ.

Một số chuyên gia đã suy đoán rằng một chánh sách đối ngoại và quốc phòng độc lập hơn của Úc sẽ tiêu tốn từ 4-5% GDP để duy trì. Tôi tin rằng chi phí sẽ cao hơn đáng kể.

 

Có thể, Tổng thống Trump có thể xử dụng những mối liên hệ này với Úc như một võ khí. Tuy nhiên, Úc không được nhìn nhận giống như Gia Nã Đại về các vấn đề an ninh quốc gia. Chánh quyền Mỹ đánh giá cao tầm quan trọng của Úc trong việc tạo ra hiệu ứng răn đe ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Việc áp dụng một cách hành xử hung hăng hơn đối với Úc cũng sẽ gây ra thiệt hại khôn lường cho lợi ích của Mỹ trong khu vực. Với những gì đang bị đe dọa, điều đó vẫn rất khó xảy ra.

 

Làm thế nào để bớt phụ thuộc hơn

Năm 2024, tôi đã viết một bài báo nghiên cứu về các cách thức mà Úc có thể ứng phó tốt hơn với “cuộc khủng hoảng đa chiều” mà nước Úc đang phải đối mặt ngày nay. Điều này bao gồm các thách thức do biến đổi khí hậu, sự chuyển đổi sang ngành công nghiệp xanh, hệ thống y tế quá tải, những thay đổi địa chánh trị ngày càng sâu sắc và sự phát triển của trí tuệ/trí thông minh nhân tạo.

Tôi đề nghị thành lập một học viện quốc gia để khảo sát các lựa chọn của Úc, và một chương trình khuyến khích nhưng tự nguyện cho dịch vụ cộng đồng và quốc gia.

Nhưng để giải quyết những thách thức này cũng cần phải hợp tác chặt chẽ hơn với các nước láng giềng.

Là một phần của điều này, nước Úc cần một lực lượng quân sự mạnh mẽ và tinh vi hơn, gắn bó chặt chẽ với các nước láng giềng. Điều này sẽ củng cố các biện pháp đang được theo đuổi ở Thái Bình Dương, chẳng hạn như:

-Chương trình An ninh Hàng hải Thái Bình Dương ( Pacific Maritime Security Program) đang cung cấp 24 tàu tuần tra cho các đối tác quốc đảo và tăng cường giám sát trên không để chống tội phạm xuyên quốc gia

-Sáng kiến ​​Cảnh sát Thái Bình Dương (Pacific Policing Initiative) chung

-trao đổi nhân sự và phối trí nhân sự lẫn nhau trong lực lượng an ninh của mỗi bên.

Úc cũng đang thực hiện các bước để tăng cường quan hệ an ninh với Nam Dương (Indonesia). Tôi đã đề nghị một “diễn đàn hợp tác hàng hải khu vực” trong tương lai, bắt đầu với sự tham gia của Úc, Tân Tây Lan, Tân Gia Ba, Nam Dương và Mã Lai Á, có thể hợp tác trong các vấn đề từ an ninh biên giới đến tình báo.

Với rất nhiều lợi ích và mối quan tâm chung, chúng ta cũng có thể tăng cường quan hệ với Gia Nã Đại. Tuyên bố chung của ông Carney và ông Albanese tuần trước đã vạch ra một loạt các cơ hội đáng kể để mở rộng hợp tác trong các lãnh vực khoáng sản trọng yếu, quốc phòng và an ninh, cũng như tăng cường các thể chế.

Úc là một cường quốc tầm trung nhưng có tham vọng của một cường quốc nhỏ. Nước này phải quản lý mối quan hệ liên minh lâu dài với Mỹ trong khi củng cố các thỏa thuận khác trong khu vực và ngoài khu vực.

Hợp tác chặt chẽ hơn với Gia Nã Đại sẽ giúp bảo đảm chúng ta có thể trở thành một nhà lãnh đạo khu vực tự tin và tự chủ hơn, chủ động giải quyết khủng hoảng khi những nước khác còn do dự. Trật tự thế giới đảo lộn hiện nay là một cơ hội để làm điều đó.

 

(Huy Le biên dịch, nguồn: TheConversation.com)

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận