Tương lai cuộc thương chiến của Trump?

Nguồn: Keith Johnson, “What’s Next for Trump’s Trade War,”Foreign Policy, 23/02/2026

 

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng (nghiencuuquocte.org)

 

Phán quyết của Tối cao Pháp viện đã đẩy sách lược quan thuế và các thỏa thuận thương mại của Tổng thống Mỹ vào tình trạng hỗn loạn.

 

Tuần cuối (của tháng Hai) vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã quyết liệt gia tăng các biện pháp quan thuế, bất chấp phán quyết bất lợi từ Tối cao Pháp viện vào thứ Sáu, cũng như sự thiếu hụt hỗ trợ chánh trị trong nước cho các chánh sách thương mại, và việc cho đến nay chánh sách này vẫn chưa mang lại kết quả kinh tế tích cực nào.

Sau khi Tối cao Pháp viện bác bỏ thẩm quyền chánh mà Trump xử dụng để đánh thuế, chánh quyền đã chuyển sang một điều khoản chưa từng được dùng đến trong luật năm 1974 như một biện pháp tạm thời nhằm duy trì mức thuế cao đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ. Biện pháp đó sẽ hết hạn sau năm tháng, nhưng chánh quyền hy vọng sẽ tranh thủ được thời gian để chuẩn bị những thẩm quyền quan thuế vững chắc và sâu rộng hơn vào cuối năm nay.

Việc tái áp đặt thuế ngay lập tức dựa trên một thẩm quyền mới đã đặt ra nhiều câu hỏi. Các quốc gia từng đàm phán hiệp ước thương mại với chánh quyền Trump dưới sự đe dọa của các mức thuế (mà nay bị xem là bất hợp pháp) sẽ nhìn nhận việc này ra sao? Liệu “kế hoạch B” về thuế của chánh quyền Trump có hợp pháp không? Thế còn các kế hoạch C và D thì sao? Liệu tất cả những điều này có thúc đẩy Quốc hội đòi lại quyền kiểm soát truyền thống đối với chánh sách thương mại? Tại sao một chánh sách phản tác dụng lại được theo đuổi quyết liệt với quá ít sự tranh luận từ công chúng như vậy?

Trước hết, các quốc gia đã thỏa hiệp về thương mại với chánh quyền Trump đang tự hỏi liệu họ có phải đã “mua nhầm hàng giả” hay không. Điều mỉa mai là một số đồng minh của Mỹ (như Anh) hiện phải đối mặt với rào cản xuất cảng cao hơn so với một tuần trước, trong khi các đối thủ kinh tế trên danh nghĩa (như Trung Quốc) lại đứng trước rào cản thấp hơn.

Chẳng hạn, Liên minh Âu Châu đã đàm phán (nhưng chưa phê chuẩn) một thỏa thuận đình chiến thương mại với Mỹ, trong đó giữ nguyên mức thuế của Mỹ đối với hàng hóa Âu châu ở mức cao 15% nhưng hạ thuế của Âu châu đối với hàng xuất cảng của Mỹ. Tuy nhiên, đó là chuyện của trước kia. Theo mức thuế mới công bố của Mỹ, EU thực tế có thể phải đối mặt với mức thuế cao hơn so với thỏa thuận. Cơ quan này khẳng định rằng “một thỏa thuận là một thỏa thuận” và yêu cầu “không được tăng thuế.” Bernd Lange, người đứng đầu mảng thương mại của Nghị viện Âu Châu, gợi ý rằng việc tráo đổi quan thuế này có thể là một hành vi vi phạm thỏa thuận ban đầu.

Vương quốc Anh, bên từng nghĩ rằng mình đã giành được một thỏa thuận hời với mức thuế chỉ 10% cho hàng xuất cảng, giờ đây phải đối mặt với các rào cản cao hơn và đang lo lắng chờ đợi số phận hiệp định thương mại của chính họ với chánh quyền Trump được làm rõ.

Trong khi đó, các quốc gia Á Châu, bao gồm Việt Nam, Mã Lai Á, Nhựt Bổn, và Nam Hàn, cũng vội vã đạt được các thỏa thuận với chánh quyền Trump dưới áp lực của các biện pháp trừng phạt mà sau đó hóa ra là bất hợp pháp, và giờ đây, họ đang đặt câu hỏi về những cam kết mà mình đã thực hiện.

Một câu hỏi lớn khác nằm ở phương thức dự phòng của chánh quyền Trump để duy trì quan thuế: Mục 122 của Đạo luật Thương mại năm 1974. Chánh quyền đã phản ứng ngay lập tức với phán quyết của Tối cao Pháp viện bằng cách công bố mức thuế toàn cầu 10% (sau đó tăng lên 15%) áp dụng cho mọi quốc gia. Mục 122 cho phép áp thuế lên tới 15% trong vòng năm tháng, sau đó phải có sự phê duyệt Quốc hội nếu muốn tiếp tục duy trì. (Vẫn chưa rõ liệu chánh quyền có thể đơn giản là gia hạn chúng bằng một sắc lệnh hành pháp mới hay không).

Nhưng điều gây thắc mắc thực sự là liệu các mức thuế dự phòng này có hợp pháp hay không, hay cũng sẽ bị xem là trái luật như những mức thuế đã bị bác bỏ hồi thứ Sáu tuần trước. Thuế theo Mục 122 được quy định rõ ràng là nhằm giải quyết khủng hoảng cán cân thương mại. Đó là vấn đề mà nước Mỹ từng phải vật lộn vào những năm 1960 và 1970, khi vẫn còn áp dụng chế độ bản vị vàng. Nhưng từ đó đến nay, Mỹ đã xử dụng tỷ giá hối đoái thả nổi – điều này về lý thuyết có nghĩa là một cuộc khủng hoảng cán cân thương mại là không thể xảy ra, do đó các mức thuế mới cũng là bất hợp pháp. Gina Gopinath, cựu chuyên gia kinh tế trưởng tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), không tin rằng nền kinh tế lớn nhất và có tính thanh khoản cao nhất thế giới đang phải đối mặt với khủng hoảng cán cân thương mại.

 

Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý. Brad Setser, một cựu quan chức Bộ Tài chánh Mỹ đáng kính hiện đang làm việc tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, lập luận rằng tình trạng tài khoản vãng lai của Mỹ hiện nay về cơ bản đã đáp ứng các điều kiện được quy định trong luật năm 1974.

Cũng cần lưu ý: Chánh quyền Trump đã lập luận trong các bản tóm tắt gửi Tối cao Pháp viện rằng thuế theo Mục 122 không thể áp dụng trong hoàn cảnh hiện tại, đó là lý do tại sao họ phải chuyển sang xử dụng đạo luật từ thời Tổng thống Carter theo cách chưa từng có tiền lệ để áp mức thuế cao hơn lên tất cả các quốc gia.

Dù các mức thuế mới gần như chắc chắn sẽ vấp phải những thách thức pháp lý, nhưng có lẽ chúng sẽ không quan trọng hoặc thậm chí không được xem xét trong ngắn hạn. (Chúng sẽ chỉ quan trọng nếu cuối cùng các tòa án tỏ ra nhượng bộ nhánh hành pháp với những khái niệm quan thuế mới mở rộng). Các mức thuế mới sẽ hết hạn vào cuối tháng 7, trừ khi Quốc hội quyết định gia hạn.

Đến lúc đó, chánh quyền Trump hy vọng sẽ chuẩn bị sẵn sàng các kế hoạch C và D. Những kế hoạch này bao gồm việc xử dụng thêm Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, một biện pháp khắc phục thương mại rõ ràng hơn mà chánh quyền đã xử dụng nhiều lần để áp thuế lên Trung Quốc vì hành vi “phân biệt đối xử.” Có ít câu hỏi pháp lý xoay quanh thuế Mục 301 hơn, nhưng chúng mất nhiều thời gian hơn để khai triển. Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ đang làm việc ngoài giờ để thực hiện các kế hoạch này.

 

Các biện pháp tiềm năng khác bao gồm việc xử dụng thêm các loại thuế “an ninh quốc gia” theo Mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962; Bộ Thương mại Mỹ hiện đã có hàng chục cuộc điều tra đang được tiến hành để xử dụng quan thuế bảo vệ an ninh quốc gia cho các lĩnh vực như gỗ và phụ tùng xe tải hạng nặng. Một lựa chọn khác có thể là một cách vận dụng mới nữa từ Đạo luật Quan Thuế Smoot-Hawley năm 1930 – điều chắc chắn sẽ dẫn đến thêm nhiều thách thức pháp lý.

Khi nói đến các thách thức pháp lý, hành động ngay lập tức sẽ liên quan đến việc hoàn trả khoản thuế từ 130 tỷ đến 175 tỷ USD mà chánh phủ Mỹ đã thu từ các công ty nhập cảng, vốn đã được chứng minh là bất hợp pháp. Trong suốt cuộc chiến pháp lý năm ngoái, chánh phủ Mỹ nói rằng việc hoàn tiền sẽ dễ dàng và tự động. Nhưng sau khi thua kiện tại Tối cao Pháp viện, họ lại nói rằng việc hoàn tiền là không thể thực hiện được, nếu không nó sẽ trở thành “phúc lợi cho doanh nghiệp.” Hàng nghìn công ty đã nộp đơn yêu cầu cứu trợ. Những người tiêu dùng đã phải trả giá cao hơn cho các mặt hàng nhập cảng đắt đỏ sẽ không được hoàn tiền trong bất kỳ trường hợp nào, nhưng một số công ty có đội ngũ luật sư giỏi thì có thể.

Một câu hỏi lớn hơn, đã được Thẩm phán Tối cao Pháp viện Neil Gorsuch đặt ra trong ý kiến đồng thuận với phán quyết hôm thứ Sáu, là liệu sau gần một thế kỷ, Quốc hội có đòi lại vai trò kiến trúc sư và người phân xử chánh sách quan thuế và thương mại của Mỹ hay không. Cho đến nay, trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump, chỉ có một vài nỗ lực rụt rè và không gặp may nhằm giành lại quyền kiểm soát thương mại từ nhánh hành pháp.

 

Một câu hỏi thậm chí còn lớn hơn nữa là liệu quyết định bác thuế của Tối cao Pháp viện, và nỗ lực tuyệt vọng của chánh quyền Trump trong việc tìm kiếm một cách chưa được kiểm chứng khác để đánh thuế nhập cảng, có làm dấy lên một cuộc tranh luận chánh trị rộng hơn về lợi ích của việc gây gián đoạn các dòng chảy thương mại – vốn đã giúp thúc đẩy sự thịnh vượng chưa từng có trong hơn nửa thế kỷ qua.

Các biện pháp quan thuế của Trump đã không đạt được mục tiêu giảm thâm hụt thương mại hay tái thiết ngành sản xuất-chế tạo, nhưng chúng đã thành công trong việc làm tăng chi phí cho các công ty và người tiêu dùng, cũng như thúc đẩy các nền kinh tế còn lại của thế giới phải suy nghĩ lại về việc nên làm kinh doanh với ai. Với sự ủng hộ chánh trị mạnh mẽ dành cho thương mại tự do, phán quyết lớn của Tối cao Pháp viện và sự lúng túng của chánh quyền Mỹ có thể là cơ hội để xem xét lại một chánh sách vốn đang là “chiếc cầu dẫn tới hư không.”

 

Keith Johnson là phóng viên của Foreign Policy, chuyên viết về địa kinh tế và năng lượng.

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận