Trung Hoa đang bóp nghẹt Đông Nam Á

Nguồn: Jessica C. Liao và Zenel Garcia, “China Is Squeezing Southeast Asia,” Foreign Affairs, 24/03/2026

 

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng (nghiencuuquocte.org)

(Huy Le cải đính)

 

Khi sự mất cân bằng gia tăng, một làn sóng phản đối đang dần nổi lên.

 

Đông Nam Á lẽ ra phải đang hưởng lợi từ sự trỗi dậy của Trung Hoa. Bắc Kinh xem sự tăng trưởng của khu vực này là một ưu tiên: Con đường Tơ lụa trên Biển của quan chức lãnh đạo Trung Hoa Tập Cận Bình – trụ cột hàng hải của Sáng kiến Vành đai và Con đường, chương trình đầu tư và hạ tầng cơ sở toàn cầu của Trung Hoa – đã đặt Đông Nam Á vào trung tâm sách lược địa kinh tế của Bắc Kinh và đưa khu vực này trở thành mục tiêu hàng đầu cho các cơ hội phát triển. Đông Nam Á thu hút khoảng 126 tỷ USD đầu tư từ Trung Hoa trong thập niên qua, và đến năm 2020, khu vực này đã vượt qua Mỹ và Liên minh Âu châu để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Hoa. Khi Hoa Thịnh Đốn quay trở lại với đe dọa thuế quan và nhu cầu trên toàn cầu chậm lại, Bắc Kinh càng đẩy mạnh thương mại với các quốc gia thuộc Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á. Hồi tháng 10/2025, các quan chức lãnh đạo đã ký Hiệp định Thương mại Tự do Trung Hoa – ASEAN 3.0, một phiên bản cập nhật của hiệp định được sửa đổi lần cuối vào năm 2015, làm sâu sắc thêm sự hội nhập của khu vực với Trung Hoa.

 

Tuy nhiên, những gì từng có vẻ là một con đường dẫn đến sự thịnh vượng chung nay lại giống như một ngõ cụt. Lực hút kinh tế của Trung Hoa đang bóp nghẹt chính những nền kinh tế mà họ đã hứa sẽ vực dậy. Thâm hụt thương mại với Bắc Kinh đã phình to khi các ngành công nghiệp địa phương, từ các công ty sản xuất dệt may ở Nam Dương đến các công ty sản xuất thép ở Thái Lan, phải chật vật chống lại làn sóng hàng hóa giá rẻ từ Trung Hoa. Các chuyên gia kinh tế thường lập luận rằng đầu tư và xuất cảng của Trung Hoa, chủ yếu bao gồm các phụ tùng và linh kiện trung gian được xử dụng để sản xuất các sản phẩm chế tạo khác, lẽ ra phải tạo ra cơ hội để Đông Nam Á phát triển. Nhưng việc các nhà đầu tư Trung Hoa tiếp tục phụ thuộc vào chuỗi cung ứng ở quê nhà có nghĩa là các nền kinh tế trong khu vực không được hưởng lợi từ nhiều sự gia tăng năng suất, các cụm công nghiệp, hoặc chuyển giao công nghệ vốn thường đi kèm với các khoản đầu tư nước ngoài như vậy.

 

Một phần của thách thức nằm ở mô hình tăng trưởng của Trung Hoa: khi đối mặt với lợi nhuận sụt giảm, cạnh tranh quá mức, và tiêu dùng nội địa ít ỏi, các công ty Trung Hoa phải mở rộng ra thị trường nước ngoài để tồn tại. Nhưng các thể chế chính trị của Đông Nam Á cũng đóng một vai trò nhất định. Nhiều quốc gia trong khu vực đang chật vật với hệ thống pháp quyền yếu, mạng lưới bảo trợ bén rễ sâu trong hệ thống, và tình trạng thao túng quy định, trong đó các doanh nghiệp, về căn bản, cấu kết với các cơ quan chính phủ lẽ ra phải giám sát họ. Các nhà đầu tư nước ngoài chơi theo luật địa phương – nhưng ở Đông Nam Á, các luật lệ quá yếu để ngăn cản họ lợi dụng, hoặc thậm chí làm trầm trọng thêm, tình trạng thiếu giám sát hiệu quả hoặc thiếu minh bạch.

 

Khi Trung Hoa gia nhập hệ thống thương mại toàn cầu vào năm 2001, các chuyên gia kinh tế đã gọi tác động bất ngờ đối với việc làm và các ngành công nghiệp ở các nước công nghiệp tiên tiến là “cú sốc Trung Hoa.” Giờ đây, các quốc gia Đông Nam Á, bị nhấn chìm dưới làn sóng hàng xuất cảng dư thừa của Trung Hoa, đang phải vật lộn với “cú sốc Trung Hoa thứ hai.” Khi các dự án khai thác mỏ, cơ sở hạ tầng, và các đặc khu kinh tế do Trung Hoa hậu thuẫn – đặc biệt là những nơi đầy rẫy các hoạt động bất hợp pháp như cờ bạc và các tổ chức lừa đảo – nở rộ ở Đông Nam Á, sự phản kháng của người dân địa phương và tình trạng bất ổn công cộng cũng tăng theo. Sự bất mãn này không chỉ gây khó chịu về mặt ngoại giao đối với Trung Hoa, mà còn là phép thử đối với một trong những mục tiêu của năng lực quản lý nhà nước của họ: thúc đẩy sự ổn định thông qua hội nhập kinh tế. Cho đến nay, giới tinh hoa kinh doanh và các chính phủ ở Đông Nam Á đã tỏ ra thân thiện với Bắc Kinh hoặc thông đồng với các nhà đầu tư Trung Hoa. Nhưng nếu các quan chức lãnh đạo khu vực muốn tránh trì trệ kinh tế và tình trạng biến động đi kèm, họ phải đưa khu vực này vào vị thế có thể hưởng lợi từ sự bành trướng kinh tế của Trung Hoa, chứ không phải oằn mình gánh lấy sức nặng của nó.

 

 

ĐÀN NGỖNG KHÔNG THỂ BAY

Các kinh tế gia và quan chức Trung Hoa lạc quan về sự tăng trưởng của Đông Nam Á thường nhấn mạnh mô hình nâng cấp công nghiệp “đàn ngỗng bay” đã giúp Hương Cảng, Tân Gia Ba, Nam Hàn, và Đài Loan phát triển sau thành công ban đầu của Nhựt Bổn. Hồi thập niên 1960, khi Nhựt Bổn công nghiệp hóa và chi phí lao động tăng cao, các quốc gia láng giềng có thu nhập thấp hơn đã áp dụng mô hình của nước này và tiếp quản các ngành công nghiệp mà Nhựt Bổn để lại. Ngày nay, Trung Hoa đang bay phía trước và dường như đang dẫn dắt sự trỗi dậy của Đông Nam Á. Cụ thể, họ đang tiến tới các ngành công nghiệp thâm dụng vốn nhiều hơn, bên cạnh việc tăng cường đầu tư và thương mại với các quốc gia trong toàn khu vực. Mô hình đàn ngỗng bay cho thấy rằng việc mở rộng nguồn vốn của Trung Hoa về nguyên tắc sẽ mang lại lợi ích cho các quốc gia Đông Nam Á và hỗ trợ sự phát triển của các ngành công nghiệp của chính họ.

Nhưng quan hệ kinh tế giữa Trung Hoa và Đông Nam Á lại đang ngày càng mất cân bằng. Năm 2025, Trung Hoa ghi nhận thặng dư thương mại toàn cầu hơn 1 nghìn tỷ USD, trong đó các nước ASEAN chiếm khoảng 23%. Nhập cảng của họ từ Trung Hoa đã tăng vọt kể từ năm 2020, nhưng xuất cảng sang Trung Hoa phần lớn chững lại trong cùng kỳ, đẩy thâm hụt thương mại của khu vực này với Bắc Kinh từ mức hơn 10 tỷ USD vào năm 2010 lên khoảng 140 tỷ USD vào năm 2024. Hàng hóa từ Trung Hoa đang đổ vào Đông Nam Á, nhưng lượng giá trị được tạo ra bởi lĩnh vực sản xuất-chế tạo của khu vực lại không theo kịp sự mở rộng thương mại. Theo dữ liệu của cơ quan Thương mại và Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNCTAD), vào năm 2023, Đông Nam Á chỉ đóng góp 5% vào giá trị gia tăng toàn cầu trong sản xuất-chế tạo – nghĩa là xấp xỉ tỷ lệ của một thập niên trước đó. Ngược lại, Trung Hoa chiếm tới 28%, cao hơn khoảng 10 điểm phần trăm so với năm 2012.

Những khoảng cách ngày càng nới rộng này chỉ ra rằng Trung Hoa – con ngỗng đầu đàn – đang tiến tới hoạt động sản xuất có giá trị cao hơn mà không nâng đỡ các nền kinh tế Đông Nam Á với tốc độ tương tự. Khi các công ty Trung Hoa đầu tư vào Đông Nam Á, các nền kinh tế địa phương không được hưởng lợi theo những cách từng cho phép các quốc gia khác phát triển mạnh mẽ dưới mô hình đàn ngỗng bay. Ở đầu trên của chuỗi giá trị sản xuất, trong các lĩnh vực như xe điện, pin, và tấm pin năng lượng mặt trời, các công ty Trung Hoa chỉ chuyển nhượng những khâu thâm dụng lao động nhất trong quá trình sản xuất sang Đông Nam Á. Bắc Kinh khuyến khích các công ty giữ lại các quy trình có giá trị gia tăng cao nhất ở trong nước, và cảnh báo không để các công nghệ lõi hoặc kiến thức được chuyển giao sang quốc gia nơi sản phẩm đang được sản xuất. Chẳng hạn, tại Nam Dương, các công ty Trung Hoa kiểm soát khoảng 75% hoạt động tinh chế niken và đang phát triển một tổ hợp sản xuất pin trị giá 6 tỷ USD. Nam Dương chỉ thu được khoảng 10% giá trị gia tăng trong toàn bộ quá trình sản xuất, từ khai thác quặng đến lắp ráp các thành phần của pin. Phần tiền còn lại chảy ngược về các nhà đầu tư ban đầu ở Trung Hoa dưới dạng lợi nhuận và để trả các khoản vay.

Các công ty Trung Hoa cũng ưu tiên không xử dụng các công ty cung cấp địa phương trong các nhà máy của họ ở Đông Nam Á. Các công ty hàng đầu của Trung Hoa đã xây dựng các hệ thống gần như khép kín ở quê nhà, trong đó họ kiểm soát tiến trình sản xuất ở mọi giai đoạn từ nguyên liệu thô đến khâu lắp ráp cuối cùng. Điều này ngăn cản họ hội nhập với các công ty sản xuất địa phương và đôi khi thậm chí còn đẩy quốc gia sở tại ra khỏi ngành công nghiệp này. Việc khai trương nhà máy ở nước ngoài đầu tiên của công ty sản xuất xe hơi điện BYD tại Thái Lan vào năm 2024 đã mang theo một làn sóng hàng hóa trung gian nhập cảng từ Trung Hoa, bao gồm hệ thống pin cao cấp, động cơ, và các bộ phận cấu trúc căn bản, để lắp ráp thành xe hơi tại nhà máy mới. Nhưng việc các phụ tùng xe hơi bằng thép giá rẻ tràn vào thị trường Thái Lan đã khiến doanh số của các công ty cung cấp ở địa phương giảm 20%, những người theo truyền thống vẫn cung cấp các thành phần như vậy cho các hãng sản xuất xe hơi Nhựt Bổn tại Thái Lan. Các khoản đầu tư vào năng lượng mặt trời của Trung Hoa tại Việt Nam cũng hoạt động giống một trung tâm gia công xuất cảng hơn là một cơ sở sản xuất, khiến những người chỉ trích cho rằng Đông Nam Á chỉ đơn thuần là một trạm trung chuyển để Trung Hoa vận chuyển hàng hóa của mình đi nơi khác.

 

Nỗ lực tự chủ về công nghệ của Bắc Kinh cũng đang làm suy yếu các quốc gia Đông Nam Á trong những lĩnh vực tiên tiến mà khu vực này đang giành được chỗ đứng, bao gồm cả chất bán dẫn. Mã Lai Á, Tân Gia Ba, và Việt Nam cung cấp chip cho xe hơi, thiết bị công nghiệp, và điện tử tiêu dùng. Nhưng nhu cầu từ Trung Hoa có thể sẽ yếu đi do Bắc Kinh trợ cấp cho các công ty trong nước để họ giảm bớt sự phụ thuộc vào hàng nhập cảng. Trong vòng 5 năm tới, Trung Hoa có thể sẽ sản xuất được hầu hết các loại chip thế hệ cũ cho riêng mình, vốn dựa trên kỹ nghệ cũ hơn nhưng vẫn rất cần thiết cho phần lớn các sản phẩm trên thị trường. Trong lúc các công ty Trung Hoa thay thế các linh kiện địa phương bằng chip của Trung Hoa trong hoạt động sản xuất chất bán dẫn, con đường cho sự phát triển của Đông Nam Á lại bị thu hẹp.

 

Trong khi đó, Trung Hoa thực chất không hề loại bỏ các ngành công nghiệp thâm dụng lao động, vốn được kỳ vọng sẽ chuyển sang các quốc gia Đông Nam Á có chi phí thấp hơn. Ví dụ, các ngành công nghiệp Việt Nam hiện phải đối mặt với áp lực khổng lồ từ hàng triệu đơn hàng giá rẻ – trị giá 2 tỷ USD mỗi tháng – đổ vào nước này mỗi ngày từ các nền tảng thương mại điện tử của Trung Hoa. Việc nhập cảng hàng dệt may giá rẻ của Trung Hoa đã góp phần khiến Nam Dương mất gần 80.000 việc làm trong các lĩnh vực này vào năm 2024. Các công ty sản xuất ở nước sở tại không thể cạnh tranh với quy mô và hiệu quả của hệ thống công nghiệp hàng đầu thế giới của Trung Hoa. Hơn 2.000 khu phát triển kinh tế ở Trung Hoa cung cấp cho các công ty quyền giao thương cả các công ty cung cấp thượng nguồn và hạ nguồn tại cùng một nơi. Ví dụ, một công ty năng lượng tái tạo lớn như Trina Solar, chuyên lắp ráp các tấm pin quang năng tại một khu công nghiệp ở tỉnh Giang Tô, miền đông Trung Hoa, có thể tìm thấy kính cường lực, khung nhôm, và các thành phần thiết yếu khác ngay trong tầm tay. Các công ty khác của Trung Hoa thì chuyển sang xử dụng máy móc tự động và tự động hóa nhà máy để bù đắp chi phí lao động tăng cao mà không cần phải chuyển sản xuất ra nước ngoài. Tập đoàn Midea, gã khổng lồ về thiết bị gia dụng, đã đầu tư hàng tỷ USD để chuyển đổi các cơ sở của mình thành các nhà máy tự động hóa “tắt đèn” (hoạt động không cần ánh sáng), có thể vận hành chỉ với 10% số lượng công nhân so với yêu cầu trước đây. Chính sách của chính phủ đã củng cố sự chuyển dịch này bằng các chỉ thị quốc gia và các khoản trợ cấp khổng lồ để thúc đẩy tự động hóa công nghiệp, đặc biệt là trong các lĩnh vực sản xuất kỹ năng thấp dễ bị đưa ra nước ngoài nhất.

 

SỰ THẤT BẠI VỀ MẶT THỂ CHẾ

Cuộc khủng hoảng mà Đông Nam Á hiện đang phải đối mặt từ cú sốc Trung Hoa thứ hai liên quan đến khía cạnh quản trị nhiều không kém so với kinh tế. Quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với Bắc Kinh đã phơi bày – và trong nhiều trường hợp, làm trầm trọng thêm – những điểm yếu về mặt thể chế của khu vực, những điểm yếu đã cản trở năng lực cạnh tranh toàn cầu của họ. Giới tinh hoa chính trị và kinh doanh trên khắp Đông Nam Á xem nguồn vốn của Trung Hoa là chất xúc tác không thể thiếu cho tăng trưởng, nhưng giờ đây, họ đang phải đối mặt với những hậu quả ngày càng lớn từ sự phụ thuộc này. Các tranh chấp lao động, suy thoái môi sinh, và các hoạt động tội phạm đều đang gia tăng.

 

Nam Dương là một ví dụ điển hình. Trung Hoa hiện là đối tác thương mại lớn nhất và là nước tài trợ chính cho nhiều hạ tầng cơ sở trọng điểm, bao gồm cả tuyến đường xe lửa cao tốc của Nam Dương. Nhưng các dự án do Trung Hoa hậu thuẫn lại dẫn đến tình trạng bất ổn. Tại các nhà máy luyện niken thuộc sở hữu của Trung Hoa ở Sulawesi và Maluku, công nhân địa phương đã tổ chức biểu tình kể từ năm 2020 để phản đối tình trạng nợ lương, điều kiện làm việc không an toàn, và việc ưu tiên thuê mướn lao động Trung Hoa thay vì lao động Nam Dương. Tình trạng phá rừng lan rộng và ô nhiễm không khí, sông ngòi, và đại dương nghiêm trọng do các hoạt động khai thác mỏ của Trung Hoa đã kích động phẫn nộ và thậm chí dẫn đến các cuộc bạo loạn chết người. Công chúng ngày càng hoài nghi năng lực của chính phủ Nam Dương trong việc buộc các nhà đầu tư Trung Hoa phải chịu trách nhiệm. Năm 2023, việc cưỡng chế di dời cư dân sở tại để dọn đường cho một khu công nghiệp trị giá 4 tỷ USD do Trung Hoa hậu thuẫn trên Đảo Rempang, gần Tân Gia Ba, đã dẫn đến các cuộc biểu tình rầm rộ và các vụ đụng độ bạo lực với cảnh sát. Ngay cả dự án đường xe lửa cao tốc nối Jakarta với Bandung – được Tổng thống Joko Widodo ca ngợi là biểu tượng cho quá trình hiện đại hóa của Nam Dương trong nhiệm kỳ của ông từ năm 2014 đến năm 2024 – cũng thu hút sự chỉ trích ngày càng tăng về chi phí. Tổng thống đương nhiệm, Prabowo Subianto, từng xem tuyến đường sắt này là biểu tượng cho sự phụ thuộc quá mức của đất nước vào nợ của Trung Hoa khi ông còn là lãnh đạo phe đối lập; giờ đây, chính quyền của ông đang phải đối mặt với sự giám sát mới khi những khoản lỗ của dự án này cứ chất chồng.

 

Dấu chân kinh tế của Trung Hoa cũng mở rộng thông qua các mạng lưới tội phạm ở Đông Nam Á. Tại Myanmar, nơi quân đội giành quyền kiểm soát từ chính phủ dân cử trong cuộc đảo chính năm 2021, các khu công nghiệp do Trung Hoa tài trợ đã trở thành trung tâm của các tổ chức lừa đảo, sản xuất ma túy, cũng như hoạt động buôn người và chất gây nghiện. Tại Cam Bốt, nguồn vốn của Trung Hoa đã thúc đẩy sự bùng nổ ngành bất động sản và sòng bạc, biến thành phố cảng Sihanoukville thành một trung tâm rửa tiền và buôn người; ngày nay thành phố này đang phải vật lộn với nợ nần, những tòa nhà bỏ hoang, và cả sự vỡ mộng. Ngay cả Tân Gia Ba cũng không miễn nhiễm. Một cuộc điều tra vào năm 2023 đã phát hiện ra một mạng lưới rửa tiền khổng lồ gắn liền với các tổ chức tội phạm Trung Hoa, phơi bày việc dòng vốn bất hợp pháp liên quan đến Trung Hoa đã len lỏi vào thị trường được quản lý chặt chẽ nhất của khu vực như thế nào.

 

Tuy nhiên, sự bất mãn lan rộng trong công chúng đã không buộc các chính phủ trong khu vực phải thực hiện những cải cách cần thiết để giải quyết các vấn đề này. Năng lực giám sát yếu kém, các bộ máy hành chính phân tán, và mạng lưới bảo trợ bén rễ sâu trên khắp phần lớn Đông Nam Á khiến các chính phủ không được trang bị đủ để quản lý hậu quả từ dấu chân bành trướng của Trung Hoa. Trong nhiều trường hợp, thay vì thúc đẩy các chính sách bảo vệ nền kinh tế của chính họ khỏi bị tổn hại, giới tinh hoa chính trị ở nước sở tại lại thông đồng với các nhà đầu tư Trung Hoa. Quyết định đồng lõa này càng củng cố thêm sức mạnh của sự bảo trợ và làm suy yếu trách nhiệm giải trình trước công chúng. Ở Cam Bốt và Lào, các quan chức chính phủ thậm chí còn áp dụng cách hành xử mang tính cưỡng chế của Bắc Kinh để đối phó với sự bất mãn của người dân. Họ liên tục đàn áp các cuộc biểu tình của địa phương nhằm phản đối các dự án đầu tư của Trung Hoa, đôi khi với sự hỗ trợ trực tiếp từ các lực lượng an ninh và công nghệ giám sát của Trung Hoa.

Ở thời điểm này, Trung Hoa giữ vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế Đông Nam Á đến mức các quan chức lãnh đạo trong khu vực chần chừ không muốn phải đối mặt với những vấn đề đe dọa đến tăng trưởng dài hạn. Một nghiên cứu vào năm 2025 của Trường Kinh doanh IMD tại Thụy Sĩ đã phát hiện ra rằng, ngoại trừ Nam Dương, các nước ASEAN chỉ áp dụng các biện pháp đối phó lên chưa tới 7% lượng hàng xuất cảng của Trung Hoa được Bắc Kinh trợ cấp, trong khi các nước G7 đã hành động đối với 12 đến 15%. Các vấn đề liên quan đến đầu tư của Trung Hoa hiếm khi được nhắc đến tại các cuộc họp ngoại giao cấp cao.

 

ĐỐI MẶT VỚI THỰC TẾ

Cho đến nay, những rạn nứt vẫn chưa làm chậm quá trình bành trướng của Trung Hoa vào Đông Nam Á. Nhưng chúng phơi bày những giới hạn trong mô hình phát triển của Bắc Kinh và những mâu thuẫn trong năng lực quản lý kinh tế của họ. Các quan chức lãnh đạo Trung Hoa hy vọng rằng nguồn vốn từ nước họ sẽ kéo các quốc gia lại gần nhau và củng cố thiện chí khu vực. Tuy nhiên, làn sóng phản đối mà các khoản đầu tư của họ tạo ra đang làm gia tăng sự bất ổn về kinh tế xã hội ở Đông Nam Á. Các chính phủ và các quan chức lãnh đạo địa phương có xu hướng phớt lờ hoặc đàn áp tình trạng bất ổn ngày càng gia tăng, nhưng điều đó chỉ làm tăng nguy cơ biến bất mãn rời rạc thành gián đoạn quy mô lớn. Sự bùng phát nhanh chóng của các cuộc biểu tình bạo lực ở Jakarta và trên toàn quốc, vào tháng 08/2025, cho thấy những bất bình có thể bùng nổ đến mức nào nếu nền kinh tế trì trệ và việc làm biến mất.

 

Đối với Đông Nam Á, ảnh hưởng kinh tế của Trung Hoa đòi hỏi người ta phải nhìn nhận lại mọi chuyện. Không có tình huống khả thi nào mà trong đó khu vực này từ chối Trung Hoa hoặc tách rời khỏi nền kinh tế của nước này; sự kết nối đã quá sâu. Nhưng các quan chức lãnh đạo khu vực phải giải quyết những thách thức bắt nguồn từ việc đất nước họ hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với Trung Hoa, nếu không, họ sẽ sớm thấy rằng rất khó để tạo ra một con đường tăng trưởng nhằm xoa dịu sự bất mãn ngày càng dâng cao.

 

Một sách lược là mở rộng mạng lưới các đối tác thương mại của khu vực. Chẳng hạn, Tân Gia Ba và Việt Nam đã ký các hiệp định thương mại với Liên minh Âu châu. Giống như Mã Lai Á và Văn Lai (Brunei), họ cũng là một phần của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) do Nhựt Bổn dẫn đầu. Các hiệp định như vậy mang lại cho các nền kinh tế Đông Nam Á cơ hội hội nhập sâu hơn vào thị trường toàn cầu, đa dạng hóa các cơ sở sản xuất, và bước lên trên chuỗi giá trị toàn cầu. Chúng cũng mang đến cho các quốc gia Đông Nam Á cơ hội tiếp thu công nghệ mới, nâng cao năng suất, và tích hợp các tiêu chuẩn về môi sinh và lao động cao hơn vào các ngành công nghiệp trong nước của họ. Và trong khi các nhà đầu tư Trung Hoa miễn cưỡng chuyển giao các quy trình tiên tiến hơn cho các quốc gia sở tại, thì các nhà đầu tư từ Âu châu, Nhựt Bổn, và Mỹ có thể giúp Đông Nam Á thu hút nhiều hoạt động sản xuất mang lại giá trị gia tăng hơn trong các ngành công nghiệp chất bán dẫn, trí tuệ/trí thông minh nhân tạo, và dược phẩm sinh học.

 

Các quốc gia Đông Nam Á cũng nên ưu tiên hội nhập lẫn nhau. Một lý do khiến các nước trong khu vực phải chật vật để hưởng lợi từ sự trỗi dậy của Trung Hoa là họ thiếu đòn bẩy trong các quan hệ song phương. Chỉ khi tồn tại như một khối, họ mới có thể xây dựng sức mạnh tập thể để đương đầu với Bắc Kinh – hoặc bất kỳ nền kinh tế lớn nào khác. Trong nhiều năm, ASEAN đã vật lộn để hội nhập hiệu quả do các hàng rào phi thuế quan như các tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau, thủ tục hải quan phức tạp, và các yêu cầu cấp phép nghiêm ngặt, cũng như yêu cầu của khối về việc ra quyết định dựa trên sự đồng thuận. Tuy nhiên, Hiệp định khung về Kinh tế Kỹ thuật số (DEFA) mới được khai triển gần đây mang lại hy vọng, bằng cách tìm cách dỡ bỏ nhiều rào cản trong số này để thúc đẩy thương mại điện tử nội khối.

Cạnh tranh với Trung Hoa cũng đòi hỏi các nước phải nhận ra Bắc Kinh đã xuất sắc ở điểm nào và cố gắng học hỏi từ điều đó. Sự trỗi dậy của Trung Hoa không chỉ được thúc đẩy bởi cơ sở hạ tầng, mà còn nhờ sự hỗ trợ quy mô lớn của nhà nước dành cho giáo dục và đổi mới sáng tạo. Các quốc gia ASEAN cần đầu tư sâu rộng hơn vào nguồn nhân lực. Việc nâng cấp năng lực của lực lượng lao động thông qua cải thiện giáo dục đại học và đào tạo nghề là điều không thể thiếu để cạnh tranh trong các lĩnh vực có năng suất cao. Các sáng kiến hiện tại, chẳng hạn như các “xưởng đúc” dạy nghề do nhà nước hỗ trợ của Mã Lai Á tại Penang, được thiết kế để thu hẹp khoảng cách giữa nguồn cung lao động có tay nghề và những nhu cầu đang ngày một thay đổi của các ngành công nghiệp kỹ nghệ cao.

 

Suy cho cùng, số phận của Đông Nam Á phụ thuộc vào chính các thể chế của họ. Nếu không có hệ thống quản trị mạnh mẽ hơn, pháp quyền vững chắc hơn, và quy định hiệu quả hơn, khu vực này sẽ phải gánh chịu hậu quả. Kế hoạch sách lược của ASEAN về hội nhập và phát triển kinh tế trong 5 năm tới – được công bố vào năm 2025 – đề ra những bước đi cụ thể để các quốc gia thành viên củng cố các thể chế, thực thi các tiêu chuẩn về lao động và môi sinh, đồng thời cải thiện năng lực quản trị đầu tư và tính minh bạch. Nhưng sự thành công phụ thuộc vào ý chí chính trị để đối mặt với thách thức và thực thi những cam kết này. Chỉ khi đó, khu vực mới có thể xây dựng một nền tảng mà từ đó cuối cùng họ có thể cất cánh bay lên.

 

Jessica C. Liao là Giáo sư về Nghiên cứu Á châu tại Khoa Sách lược và An ninh Quốc gia thuộc Đại học Chiến tranh của Quân đội Mỹ.

 

Zenel Garcia là Giáo sư về Nghiên cứu An ninh và Chủ tịch Nghiên cứu Quân sự và Quốc tế tại Khoa Sách lược và An ninh Quốc gia thuộc Đại học Chiến tranh của Quân đội Mỹ.

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận