Thực tại là giấc mơ chứ không phải là sự giả lập

Cuộc sống như một chiên bao còn hơn cả một phép ẩn dụ

 

Andrew T. Jaffe | Tác giả của cuốn sách sắp xuất bản có tựa đề Living the Dream: The Cognitive Dream Interface Theory, do Essentia Books xuất bản.

 

Hầu hết các khoa học gia vật lý đều là những người theo chủ nghĩa duy vật, tin rằng thế giới bao gồm các hạt vật lý ở cấp độ cơ bản. Những người khác lại cho rằng thực tại là một giả lập hoặc một ảo giác của não bộ. Nhưng Andrew T. Jaffe thách thức tất cả những quan điểm này, đề xướng một lý thuyết thay thế lấy ý thức làm trọng tâm, trong đó không gian và thời gian xuất hiện như trong một giấc mơ.

 

Hầu hết mọi người không bao giờ dừng lại để xem xét sự kỳ lạ của việc tồn tại. Chúng ta sống trong thực tại của ý thức một cách liên tục đến nỗi chúng ta hiếm khi xem xét nó. Tuy nhiên, việc sống, nhận thức và có ý thức trong một vũ trụ dường như vật chất lại không tự giải thích được. Đó là bí ẩn sâu sắc nhứt mà chúng ta biết. Chúng ta xuất hiện ở đây, bây giờ, trong một thế giới vật chất, không gian và thời gian, như thể điều kiện đó là bình thường. Nhưng có lẽ điều kỳ lạ không phải là chủ nghĩa duy tâm nghe có vẻ cực đoan. Có lẽ điều kỳ lạ là chủ nghĩa duy vật đã từng có vẻ hợp lý.

 

Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh (Cognitive Dream Interface Theory – CDIT) bắt nguồn từ sự không chắc chắn này. Nó đặt câu hỏi liệu điều duy nhất chúng ta biết chắc chắn, chính là nhận thức, có nên được coi là thứ yếu so với những điều chúng ta chỉ biết được thông qua nó hay không. Chủ nghĩa duy vật cho rằng ý thức bằng cách nào đó xuất hiện từ vật chất phi-nhận-thức. Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh đảo ngược trật tự đó. Nó đề xướng rằng nhận thức là yếu tố khởi phát, và cái mà chúng ta gọi là thế giới vật chất là một hình thức được tạo ra, có quy luật và được truyền tải chính bên trong nó.

 

Đây là lúc phép so sánh với giấc mơ trở nên mạnh mẽ một cách bất thường. Nhiều ý tưởng trung tâm của triết học phi-bất-nhị rất khó nắm bắt trong trừu tượng. Không có bản ngã, thời gian phi-thực, sự đa dạng rõ ràng, thế giới hiện lên như-nó-là: những điều này nghe có vẻ thơ mộng, mơ hồ hoặc khó nắm bắt. Nhưng trong giấc mơ, chúng trở nên rất thực. Một giấc mơ có thể tạo ra một thế giới, hoàn chỉnh với những người khác, phong cảnh, câu chuyện, cảm xúc và một bản ngã dường như cư ngụ trong đó. Bản ngã trong giấc mơ đó có thể không có ký ức về người đang nằm có ý thức trên giường. Đó có thể lại là một sinh viên, một người lạ, hoặc một người có quá khứ hoàn toàn khác. Nhưng khi tỉnh giấc, chúng ta lập tức nhận ra sự thực. Cái tôi trong giấc mơ không phải là chủ thể thực sự. Thế giới trong giấc mơ không được tạo nên từ vật chất. Thời gian và không gian trong giấc mơ không phải là tối thượng. Một tâm trí duy nhất đã tạo ra toàn bộ hình ảnh.

 

I–                                                                      –I

Chủ nghĩa duy vật không chỉ đấu tranh với vật lý và sinh học, mà còn với thực tế hiển nhiên của tính chủ quan.

I–                                                                      –I

 

Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh đề xướng rằng cuộc sống đời thực không khác biệt về bản chất, chỉ ổn định hơn và mạch lạc hơn. Đó là lý do tại sao sự tương đồng này lại quan trọng. Nó không chỉ đơn thuần minh họa một ý tưởng. Nó chứng minh một cấu trúc.

 

Lời phản bác, thường thấy, là giấc mơ mang tính riêng tư và thất thường, trong khi thực tại tỉnh thức tuân theo quy luật và được cảm nhận (shared). Nhưng sự phân biệt này củng cố chứ không làm suy yếu Lý thuyết Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh. Một giấc mơ có tính mạch lạc cao hơn sẽ giống một thế giới được chi phối bởi vật lý. Một giấc mơ có cảm nhận/cảm xúc sẽ đòi hỏi những ràng buộc chân thật trên nhiều quan điểm. Theo nghĩa đó, tính quy luật không phải là bằng chứng chống lại thực tại giống như giấc mơ. Nó chính xác là những gì một thế giới có trải nghiệm được dựng lên cần có.

 

Điều đáng chú ý là phần lớn khoa học hiện đại đã chỉ ra theo hướng đó. Trọng lực không còn được coi là một lực theo ý nghĩa cơ học (mechanic) từ lâu, mà là hình học (geometry). Năng lượng tối (dark energy) không được quan sát trực tiếp như một chất, mà được suy luận bởi vì, nếu không có nó, các thiên hà sẽ không thể liên kết với nhau. Năng lượng tối không được coi là một vật thể, mà hoạt động như một điều kiện giãn nở toàn cầu. Tốc độ ánh sáng là một giới hạn phổ quát đối với nhân quả và thông tin. Định luật thứ hai của nhiệt động lực học chi phối cách các trạng thái diễn ra theo thời gian biểu kiến. Ngày càng nhiều, vũ trụ trông giống một hệ thống được điều chỉnh bởi các ràng buộc về tính mạch lạc hơn là một cỗ máy được tạo thành từ các mảnh ghép.

 

Từ quan điểm của Lý thuyết Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh, điều đó mang tính gợi mở sâu sắc. Giấc mơ không được xây dựng từ các chất. Chúng được giữ lại với nhau bởi các quy luật. Các vật thể vẫn ở đúng vị trí của chúng. Các cảnh tượng vẫn tồn tại. Cơ thể có trọng lượng và vị trí. Các sự kiện diễn ra một cách dễ hiểu. Thực tại khi thức tỉnh dường như cũng làm điều tương tự, chỉ với sự ổn định lâu dài hơn nhiều. Trọng lực làm cho các mối quan hệ cục bộ được vững chắc/ổn định. Vật chất tối làm cho cấu trúc quy mô lớn được vững chắc/ổn định. Năng lượng tối làm cho phạm vi toàn cầu được ổn định. Độ nhiễu loạn của Nhiệt Động Lực học (entropy) định hướng cho sự diễn ra. Thực tại bắt đầu giống một phân giới (interface) được điều chỉnh bởi các quy luật hơn là hàng lớp lớpg những sự vật tự tồn tại.

 

Sinh học có thể đang hé lộ một sự thay đổi tương tự. Công trình của Michael Levin cho thấy rằng mã di truyền và hóa học cục bộ không giải thích đầy đủ hình thái giải phẫu. Các trường điện sinh học toàn cầu dường như cưỡng ép loại cấu trúc nào được cho phép, được sửa chữa và được duy trì. Các tế bào không chỉ đơn thuần được xây dựng từ thấp lên cao. Chúng dường như được tổ chức trong một phạm vi hình thức cho phép rộng lớn hơn. Điều này có ý nghĩa triết học vì nó cho thấy rằng tính mạch lạc có thể đi trước sự cấu thành. Các bộ phận không giải thích toàn thể một cách đầy đủ như chúng ta từng nghĩ.

 

Chủ nghĩa duy vật không chỉ đấu tranh với vật lý và sinh học, mà còn với thực tế trần trụi của chủ thể. Không có lý thuyết khoa học nào giải thích được làm thế nào mà sự không-trải-nghiệm lại sinh ra trải-nghiệm. Các mối tương quan không phải là sự suy luận. Việc quét não là việc lập bản đồ nội dung, chứ không phải chính sự nhận thức. Điều này trở nên đặc biệt gay gắt trong các cuộc thảo luận về gây mê toàn thân. Gây mê sâu rõ ràng làm gián đoạn trí nhớ, khả năng tìm kiếm thông tin kể lại sự việc, và sự kết hợp các thành phần khác nhau thành một chỉnh thể (large-scale integration). Nhưng bản thân nó không chứng minh rằng nhận thức được tạo ra bởi não bộ. Nó cho thấy rằng não bộ là cần thiết cho trải nghiệm có thể kể lại sự việc mạch lạc ở dạng tỉnh táo. Không giống như hầu hết các chức năng cơ thể, xuất hiện trên các thang đo được, nhận thức thể hiện bản thân về mặt hiện tượng học dưới dạng nhị nguyên. Trải nghiệm hoặc là sự hiện diện hoặc là sự vắng mặt trong trí nhớ, nhưng không bao giờ được trải nghiệm trực tiếp như một phần bị mờ nhạt theo cách mà người ta trải nghiệm cơ bắp yếu đi hoặc các cơ quan suy yếu. Mặc dù hình ảnh ngày càng tinh vi, nhưng không có vị trí nào của chính nhận thức được xác định, chỉ có các mối tương quan của các nội dung và trạng thái cụ thể. Lý thuyết Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh giải thích sự gây mê không phải là sự phá hủy nhận thức, mà là sự tạm dừng của câu chuyện được dựng lên/được tạo ra. Từ góc nhìn người thứ nhất, người ta không bao giờ nhớ lại sự mờ dần của chính nhận thức, mà chỉ là sự gián đoạn trong nội dung được ghi nhớ.

Đây là một lý do tại sao Lý thuyết Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh không phải là tôn giáo. Các tôn giáo cho rằng có một đấng tạo hóa tồn tại bên ngoài thế giới, điều này ngay lập tức đặt ra câu hỏi ai đã tạo ra đấng tạo hóa đó. Lý thuyết giả lập cũng làm điều tương tự dưới dạng kỹ thuật số, nhân lên các lớp bản thể luận mà không giải quyết được vấn đề gì. Lý thuyết Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh không viện dẫn một thực thể nào nằm ngoài thực tại. Nó bắt đầu từ một sự thật đã hiện hữu: nhận thức. Nhận thức không phải là một vị thần. Nó không phải là một lập trình viên ẩn danh. Nó là một hiện tượng tự nhiên, căn bản như trọng lực hay điện từ, ngoại trừ việc, không giống như những lực lượng đó, nó được biết đến trực tiếp từ bên trong.

 

Điều này cũng giải thích tại sao sự thức tỉnh theo nghĩa chiêm nghiệm lại quan trọng đến vậy. Trong giấc mơ, chúng ta thường không nhận ra rằng thế giới giấc mơ đang nảy sinh từ tâm trí. Chỉ khi tỉnh táo, chúng ta mới hiểu rằng toàn bộ khung cảnh đang được tạo ra từ bên ngoài khung biểu kiến của nó. Cuộc sống ngoài đời thực có thể có cấu trúc tương tự. Thông qua thiền định, chất gây ảo giác, trải nghiệm cận tử hoặc sự thấu hiểu tự phát, nhiều người kể về sự tan biến của bản ngã thông thường và sự tiếp xúc trực tiếp với một trường nhận thức căn bản hơn. Lý thuyết Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh diễn giải những khoảnh khắc đó không phải là những mặc khải siêu nhiên mà là những thoáng nhìn về người nằm chiên bao từ bên trong giấc mơ.

 

Câu hỏi khó nhất đối với bất kỳ lý thuyết nhận thức phổ quát nào là tại sao chỉ có một góc nhìn được trải nghiệm tại một thời điểm. Ở đây, một lần nữa, phép so sánh với giấc mơ làm sáng tỏ những gì mà sự trừu tượng che khuất. Một người nằm mơ có thể tạo ra nhiều nhân vật, nhưng giấc mơ được sống thông qua một góc nhìn tại một thời điểm. Trải nghiệm đòi hỏi sự định vị. Tính đa dạng tồn tại trong giấc mơ. Tính duy nhất thuộc về người nằm mơ. Cuộc sống ngoài đời thực cũng có thể tương tự. Những gì chúng ta gọi là bản ngã riêng biệt có thể là nhiều sự định vị của một nhận thức, mỗi sự định vị cần thiết cho một thế giới mạch lạc của những trải nghiệm khác biệt.

 

Nếu điều đó đúng, thì nhiệm vụ triết học thực sự không phải là giải thích làm thế nào vật chất sinh ra tâm trí, mà là giải thích tại sao tâm trí lại sinh ra một thế giới có cảm giác vật chất một cách thuyết phục đến vậy. Lý thuyết Giấc Mơ Có Ý thức/Giấc Mơ Tỉnh trả lời bằng cách chuyển sang lĩnh vực mà sự sáng tạo thế giới đã rõ ràng: giấc mơ. Chúng ta biết từ kinh nghiệm hàng đêm rằng một tâm trí có thể tạo ra thời gian, không gian, bản sắc, tính đa dạng và câu chuyện mà không cần vật chất bên ngoài. Điều mà chúng ta thường không xem xét là, đây có thể là sự tương đồng gần gũi nhất mà chúng ta có với chính thực tại thực ngoài đời.

 

Thực tại có thể không phải là cỗ máy tạo ra nhận thức. Thực tại có thể là nhận thức tạo ra được thế giới. Và nếu đúng như vậy, thì khám phá rốt ráo nhất cũng là khám phá mật thiết nhất: điều mà chúng ta đã và đang tìm kiếm bên ngoài giấc mơ có thể chính là nhận thức mà qua đó giấc mộng đã hiện hữu.

 

Andrew T. Jaffe

28 tháng Tư năm 2026

 

(Huy Lê – Nguồn: iai.tv)

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận