
Nguồn: Alexander Gabuev, Nicole Grajewski, và Sergey Vakulenko, “Why Russia Is Watching Iran Burn”, Foreign Affairs, 16/03/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy (nghiencuuquocte.org)
Năm ngoái, Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Ba Tư, Masoud Pezeshkian, đã ký Hiệp ước Đối tác Sách lược Toàn diện, cam kết hai nước sẽ phản đối sự can thiệp của bên thứ ba vào công việc nội bộ và đối ngoại của nhau. Moscow và Tehran đã ca tụng hiệp ước này là đỉnh cao của mối quan hệ ngày càng thắt chặt giữa hai chế độ.
Thế nhưng, khi Mỹ và Do Thái phát động cuộc tấn công vào Ba Tư cuối tháng 2/2026 vừa qua – cuộc tấn công thứ hai chỉ trong vòng tám tháng sau cuộc chiến 12 ngày mùa hè năm 2025 – Nga hầu như chỉ đứng ngoài quan sát. Ông Putin gọi việc sát hại Lãnh tụ Tối cao Ba Tư, Ali Khamenei, là một “sự vi phạm trắng trợn mọi chuẩn mực đạo đức nhân loại và luật pháp quốc tế”, còn Bộ Ngoại giao Nga kêu gọi “hạ nhiệt leo thang ngay lập tức, chấm dứt thù địch và nối lại các tiến trình chính trị, ngoại giao”, nhưng không có tuyên bố nào nhắc tên Tổng thống Mỹ Donald Trump hay đề cập đến tình huống Nga sẽ tham chiến để bảo vệ Ba Tư.
Moscow có thể đã làm đúng theo câu chữ của hiệp ước, vốn không bao gồm điều khoản phòng thủ chung, nhưng họ đã không làm được gì thực chất để hỗ trợ một đối tác then chốt ở Trung Đông và là một đồng phạm quan trọng trong cuộc chiến của ông Putin tại Ukraine (Ô Khắc Lan). Tờ The Washington Post và CNN đưa ra báo cáo rằng Nga có thể đã giúp cung cấp cho Ba Tư dữ liệu mục tiêu và các chiến thuật drone tân tiến, nhưng sự hỗ trợ hạn chế như vậy khó có thể tạo ra khác biệt lớn.
Sự bất lực của Điện Kremlin tại Ba Tư nằm trong một kịch bản quen thuộc: khi bạn bè của Nga gặp nạn, Moscow thường ra các tuyên bố đanh thép nhưng hành động thì chẳng bao nhiêu. Cuối năm 2023, Nga đã không can thiệp vào cuộc chiến ngắn ngủi giữa đồng minh hiệp ước Armenia (Á Mỹ Ni Á) và Azerbaijan (A Tắc Bái Cương), để mặc Chính quyền Thủ đô Baku giành lại quyền kiểm soát tỉnh Nagorno-Karabakh. Một năm sau, Moscow để các lực lượng nổi dậy lật đổ chế độ Bashar al-Assad ở Damascus. Trong vòng một năm qua, Mỹ (cùng với Do Thái) đã ném bom các cơ sở nguyên tử, căn cứ quân sự và nhà máy hỏa tiễn của Ba Tư; tiêu diệt các quan chức, chỉ huy quân sự và chuyên gia về khoa học nguyên tử cấp cao của Ba Tư; đồng thời bắt giữ Tổng thống của Venezuela (Ủy Nội Thụy Lạp), là ông Nicolás Maduro, đối tác chính của Moscow tại Mỹ Latinh, mà hầu như không gặp phải sự can thiệp nào từ phía Nga. Tất cả những trường hợp này đã phơi bày giới hạn quyền lực của Nga trong việc định đoạt các kết cục trên thế giới.
Dẫu vậy, cuộc chiến hiện tại ở Ba Tư lại mang đến những hệ quả ngoài ý muốn có lợi cho Nga. Khi chiến sự kéo dài, giá năng lượng có thể tiếp tục tăng, giúp Moscow kiếm thêm tiền và giải quyết khoản thâm hụt ngân sách đang phình to do cuộc chiến ở Ukraine (Ô Khắc Lan). Hôm thứ Năm (12/03), Bộ Tài chánh Mỹ thông báo rằng nhằm nỗ lực kìm hãm giá cả đang leo thang, họ sẽ tạm thời dỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ của Nga đang lênh đênh trên biển. Trong khi đó, Trung Hoa, vì lo ngại về sự ổn định lâu dài của nguồn cung năng lượng từ Trung Đông, có thể sẽ có nhu cầu còn lớn hơn đối với dầu khí của Nga. Và tất nhiên, cuộc chiến ở Ba Tư là một sự xao nhãng khác đối với Mỹ, làm tiêu tốn những nguồn lực và sự tập trung quý giá mà lẽ ra Washington đã có thể dành cho các đối tác Âu châu và Ukraine (Ô Khắc Lan). Nga có thể không bảo vệ được đối tác của mình, nhưng họ vẫn rất lão luyện trong việc thích nghi với các thất bại sách lược và thu về những lợi ích chiến thuật quan trọng từ chúng.
Liên minh thuận tiện
Sau khi Liên Xô sụp đổ, Moscow và Tehran nhận thấy lợi ích chung trong việc phát triển quan hệ đối tác. Trước đó vài trăm năm, họ chủ yếu là đối thủ, tranh giành lãnh thổ ở vùng Kavkaz và quanh Biển Caspi. Nhưng vào đầu những năm 1990, Moscow muốn bán đi kho võ khí và kỹ nghệ nguyên tử dân sự dư thừa từ thời Xô Viết, còn Ba Tư, vốn kiệt quệ sau cuộc chiến với Iraq và bị cô lập bởi các lệnh trừng phạt Tây phương, đã trở thành một khách hàng sẵn lòng mua.
Xuyên suốt những năm 1990 và đầu 2000, Nga đã bàn giao các hệ thống mà đến nay vẫn là thành phần nòng cốt trong kho võ khí của Ba Tư: tiêm kích MiG-29, cường kích Su-24, tiềm thủy đỉnh diesel lớp Kilo, xe tăng T-72 và hệ thống phòng không S-200. Sau này, Nga còn gửi thêm các tổ hợp phòng không tầm ngắn Tor-M1 và hệ thống hỏa tiễn đất đối không tầm xa S-300. Những đợt chuyển giao này rất quan trọng với Ba Tư, nhưng chúng chưa bao giờ đạt đến mức độ tích hợp quân sự tầm liên minh. Việc giao hàng của Nga chỉ diễn ra theo từng đợt lẻ tẻ, bị hạn chế bởi các lệnh trừng phạt của Tây phương, và không bao gồm các hệ thống mạnh mẽ nhứt như phòng không S-400 hay các dòng tiêm kích tân tiến nhứt.
Hơn nữa, ngay cả khi bán hệ thống phòng không và trực thăng cho Tehran, Nga vẫn duy trì quan hệ an ninh song song với Ai Cập, Do Thái và các quốc gia vùng Vịnh, những đối thủ hoặc kẻ thù của Ba Tư. Các quan chức Ba Tư không hề mù quáng trước điều này, và sự bất mãn mà nó tạo ra vô cùng sâu sắc. Năm 2010, trước áp lực của Tây phương, Moscow đã đình chỉ việc bàn giao hệ thống S-300 cho Ba Tư và chấp thuận các lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc mà họ vốn phản đối. Vào thời điểm Moscow vẫn còn mong muốn được coi là một thành viên thường trực có trách nhiệm của Hội đồng Bảo an và là đối tác giá trị của Mỹ, giới lãnh đạo Nga đã đối xử với Ba Tư không phải như một đối tác, mà như một quân cờ để mặc cả trong các cuộc đàm phán với Washington và Brussels.
Từ đầu những năm 2000, Nga và Ba Tư đã cố gắng hợp tác trong lĩnh vực dầu khí, xương sống của cả hai nền kinh tế, nhưng thành công rất hạn chế. Các công ty dầu khí Nga đã xem xét một số cơ hội thăm dò và sản xuất tại Ba Tư, nhưng không có thỏa thuận nào được ký kết. Tập đoàn dầu khí quốc gia Nga Gazprom từng cân nhắc tham gia phát triển một mỏ khí đốt khổng lồ ở Vịnh Ba Tư, nhưng các điều khoản thương mại không hấp dẫn. Tổng kim ngạch thương mại giữa hai nước thời kỳ này cũng thấp, dao động từ 1 tỷ đến 3 tỷ USD mỗi năm, Moscow chủ yếu bán ngũ cốc và nhiên liệu nguyên tử cho Ba Tư còn Tehran chủ yếu xuất cảng trái cây, rau củ và các loại hạt cho Moscow.
Năm 2015, cuộc nội chiến ở Tư Lợi Á (Cộng Hòa Ả Rập Syria) đã đưa Nga và Ba Tư vào một liên minh tác chiến để cứu vãn chế độ Assad. Moscow hỗ trợ bằng đường không, còn Tehran củng cố lực lượng mặt đất bằng cách gửi cố vấn quân sự và thúc đẩy Hezbollah, lực lượng dân quân dòng Hồi giáo Shitte do Tehran hậu thuẫn, tham chiến cùng phe Assad. Nhưng phải đến khi ông Putin tiến hành cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine, mối quan hệ giữa Moscow và Tehran mới phát triển thành một quan hệ đối tác chặt chẽ và cân bằng hơn nhiều.
Những mối ràng buộc
Sau tháng Hai năm 2022, Điện Kremlin tìm kiếm ba điều chính từ các đối tác bên ngoài: sự sẵn lòng và năng lực hỗ trợ chiến dịch quân sự nhắm vào Kyiv, sự giúp đỡ trong việc lách trừng phạt để duy trì nền kinh tế Nga đang bị vây hãm, và cách xử dụng các công cụ gây áp lực để trả đũa liên minh Tây phương đang ủng hộ Ukraine. Ba Tư đã đáp ứng cả ba tiêu chí này ở các mức độ khác nhau và từ đó trở thành đối tác chính của Nga tại Trung Đông. Việc Moscow nghiêng về phía Ba Tư đã ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ với Do Thái, nước vốn đã bắt đầu chia sẻ một số công nghệ quân sự với Ukraine, nhưng Điện Kremlin quyết định rằng quan hệ đối tác với Tehran xứng đáng với cái giá đó.
Cuộc chiến tại Ukraine đã đảo ngược logic trong quan hệ an ninh Ba Tư – Nga. Lần đầu tiên, Ba Tư trở thành nước cung cấp võ khí chính cho Nga. Đóng góp sớm và quan trọng nhứt là dòng đạn tuần kích Shahed, được lực lượng Nga khai triển từ mùa thu năm 2022 để bù đắp cho kho hỏa tiễn chính xác đang cạn kiệt. Moscow đã nhanh chóng nội địa hóa việc sản xuất Shahed, thiết kế lại các thành phần bên trong để phù hợp với chuỗi cung ứng trong nước cùng các thiết bị điện tử bị hạn chế bởi trừng phạt, đồng thời mở rộng sản lượng vượt xa mức Ba Tư cung cấp ban đầu.
Đổi lại, theo các báo cáo truyền thông, Nga đã cung cấp cho Ba Tư các loại võ khí mới, bao gồm một số phi cơ huấn luyện Yak-130 và trực thăng tấn công Mi-28, hàng chục xe bọc thép Spartak và võ khí hạng nhẹ. Ba Tư đã ký hợp đồng mua tiêm kích Su-35 và các hệ thống phòng không vác vai, nhưng tình trạng bàn giao hiện vẫn chưa rõ ràng. Lĩnh vực hợp tác an ninh quan trọng nhứt có lẽ là không gian; hạ tầng phóng và kinh nghiệm về quỹ đạo của Nga đóng vai trò then chốt cho việc phát triển hỏa tiễn hành trình của Ba Tư. Năm 2023, Giám đốc CIA khi đó là William Burns đã cảnh báo rằng các kỹ thuật viên Nga đang trực tiếp làm việc trong chương trình phương tiện phóng vũ trụ của Ba Tư và các nỗ lực phát triển hỏa tiễn diện rộng của nước này.
Ba Tư cũng giúp kinh tế Nga chống chọi với các lệnh trừng phạt Tây phương. Trong thập niên qua, Tehran đã trở thành người tiên phong trong việc thiết lập hệ thống hạ tầng để lách trừng phạt thương mại dầu mỏ. Vào những năm 2010, Ba Tư đã phát triển một “hạm đội ma”, một mạng lưới các tàu dầu chở dầu bị trừng phạt, nhằm thúc đẩy hoạt động xuất cảng dầu mỏ của Ba Tư, cùng với các dịch vụ phụ trợ để giải quyết vấn đề bảo hiểm, chuyển tiền và các khía cạnh khác trong vận tải và mua bán dầu mỏ của một quốc gia đang bị trừng phạt. Từ năm 2022, Nga đã áp dụng các phương pháp này của Ba Tư, dựa vào chính hạ tầng đó tại các quốc gia vùng Vịnh. Moscow sau đó đã đưa hình thức thương mại bất hợp pháp này lên tầm cao mới, xuất cảng khối lượng lớn hơn nhiều so với những gì Ba Tư từng làm được. Một mặt, việc Nga áp dụng các phương pháp của Ba Tư có lợi cho Tehran vì làm tăng tổng số tàu chở dầu trong hạm đội bóng đêm, từ đó giúp giảm chi phí vận hành loại tàu này cho bất kỳ quốc gia nào muốn xử dụng loại tàu như vậy. Nhưng mặt khác, Nga lại trở thành đối thủ cạnh tranh khi bán dầu chủ yếu cho Trung Hoa và Ấn Độ, đúng những khách hàng mà Ba Tư đang nhắm tới.
Dù vậy, thương mại giữa Nga và Ba Tư đã tăng hơn gấp đôi kể từ khi cuộc chiến ở Ukraine bắt đầu, từ khoảng 2 tỷ USD lên gần 5 tỷ USD hiện nay. Moscow cũng giúp đỡ Ba Tư theo những cách khác. Năm 2023, Điện Kremlin đã thực hiện bước thúc đẩy cuối cùng để Ba Tư trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Năm tiếp theo, Moscow vận động để Tehran được gia nhập khối BRICS mở rộng, với các thành viên sáng lập là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Hoa và Nam Phi. Và tháng 5/2025, Nga đã dàn xếp việc ký kết hiệp định thương mại tự do giữa Ba Tư và Liên minh Kinh tế Á-Âu, bao gồm Armenia, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan và Nga. Điện Kremlin cũng cho thấy sự sẵn lòng hợp tác với một số lực lượng ủy nhiệm của Ba Tư, đặc biệt là Houthi, bằng cách cung cấp huấn luyện và võ khí.
“Hái quả” từ khủng hoảng
Nhưng ngay cả khi mối quan hệ sâu sắc hơn, giới hạn về tầm ảnh hưởng và năng lực bảo vệ đối tác của ông Putin vẫn lộ rõ. Nga có thứ mà Ba Tư khao khát nhứt trong một cuộc xung đột lớn với Do Thái và Mỹ: các dòng tiêm kích tân tiến, hệ thống phòng không và đạn dược chính xác cao mà Nga sản xuất với số lượng lớn. Nhưng đây đều là những khí tài mà Nga đang cần cho cuộc chiến của chính mình tại Ukraine. Ngay cả khi muốn chuyển những hệ thống võ khí này cho Ba Tư, Moscow cũng không thể thực hiện đủ nhanh. Chẳng hạn, việc huấn luyện nhân sự Ba Tư vận hành hệ thống S-400 sẽ mất khoảng 6 đến 8 tháng.
Với quân đội bị cuốn vào chiến trường Ukraine và không hề muốn cản đường một cuộc tấn công quyết liệt của Mỹ- Do Thái, Moscow chỉ hỗ trợ Tehran bằng những lời lên án ngoại giao và kêu gọi kiềm chế. Một yếu tố khác kìm hãm Moscow là các cuộc đàm phán đang diễn ra với chính quyền Trump để kết thúc cuộc chiến tại Ukraine. Giới lãnh đạo Nga hy vọng thu được lợi ích từ tiến trình này, ít nhứt là hạn chế sự hỗ trợ của Mỹ cho Ukraine và làm chậm việc khai triển các lệnh trừng phạt mới nhắm vào Nga. Trong bối cảnh đó, Điện Kremlin không thể hỗ trợ Ba Tư một cách mạnh mẽ và lộ liễu hơn. Cam kết của Moscow với Tehran cũng bị chi phối bởi nhu cầu cân bằng các mối quan hệ trong khu vực. Các nước vùng Vịnh đang đối mặt với các cuộc tấn công của Ba Tư lại chính là những đối tác quan trọng của Nga—đặc biệt là UAE, đóng vai trò là trung tâm tiếp liệu và tài chánh của Nga, và Ả Rập Saudi, đối tác then chốt của Điện Kremlin trong OPEC+.
Tất nhiên, Nga có thể đang cung cấp những hỗ trợ khó quan sát hơn các chuyến tàu chở võ khí, như cung cấp quyền truy cập vào tình báo dựa trên không gian, giám sát và trinh sát để giúp Ba Tư xác định mục tiêu tốt hơn. Sự hỗ trợ này ít để lại dấu vết hơn việc chuyển giao phi cơ hay hỏa tiễn, khiến nó khó bị theo dõi và dễ dàng bị phủ nhận hơn, nhưng vẫn mang lại hiệu quả đáng kể. Một số viên chức Mỹ đã kết luận rằng Moscow đang bí mật tham gia vào các hoạt động này, như tờ The Washington Post đã đưa tin gần đây. Quy mô và mức độ thực sự của nỗ lực này rất khó ước tính ở thời điểm này, nhưng tác động của nó chắc chắn mờ nhạt hơn nhiều so với chương trình hỗ trợ tình báo nhiều năm do Mỹ dẫn đầu đã giúp Ukraine tiêu diệt hàng ngàn binh sĩ Nga kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện vào năm 2022.
Dù không hỗ trợ được nhiều cho Tehran, Nga vẫn đứng trước cơ hội hưởng lợi từ các hệ quả ngoài ý muốn và tác động dây chuyền của cuộc chiến tại Ba Tư. Mỹ đang tiêu tốn các hỏa tiễn đánh chặn và đạn dược chính xác mà Ukraine đang rất cần. Hỏa tiễn Patriot và võ khí tấn công tầm xa là có hạn, và những gì được chuyển cho Do Thái hay vùng Vịnh sẽ không còn để chuyển cho Kyiv.
Một phần thưởng lớn hơn nữa cho Nga là giá năng lượng tăng cao. Giá dầu đã giảm vào năm 2025 do quyết định tăng sản lượng của OPEC+. Nga không còn nhiều năng lực dư thừa để mở rộng sản xuất dầu, nên họ không thể lấy khối lượng bù đắp cho giá cả. Quyết định đó đã tạo ra thặng dư trên thị trường, mang lại nhiều lựa chọn thay thế dầu Nga cho người mua, cộng với áp lực trừng phạt từ Mỹ đã khiến dầu Nga bị ép giá sâu. Giờ đây, sự khan hiếm do eo biển Hormuz bị đóng cửa đang đẩy giá dầu lên cao, tiếp sức cho doanh thu ngân sách của Nga. Tuần trước, để xoa dịu thị trường, Bộ Tài chánh Mỹ thậm chí đã cấp giấy phép 30 ngày cho phép bán dầu thô của Nga cho Ấn Độ, vốn là lượng dầu đã bị trừng phạt trước đó. Vùng Vịnh cũng là nơi cung cấp khí hóa lỏng (LNG) lớn; việc xuất cảng từ khu vực này giảm mạnh giúp Nga bán được LNG của chính Nga khai thác, đặc biệt là tại Á châu.
Sự gián đoạn vài tuần tại vùng Vịnh có thể mang lại lợi ích cho Nga nhưng không đáng kể; cứ mỗi 10 USD tăng thêm cho mỗi thùng dầu, Nga đứng trước cơ hội kiếm thêm khoảng 95 triệu USD mỗi ngày, một con số không quá lớn trong ngắn hạn. Nhưng nếu cuộc chiến gây ra thiệt hại nặng nề và lâu dài cho hạ tầng dầu khí khu vực, nó có thể duy trì mức giá cao trong thời gian dài và giúp lấp đầy túi tiền của Điện Kremlin. Cho đến nay, Mỹ và Do Thái vẫn chưa tấn công vào tiềm lực xuất cảng dầu hay các mỏ dầu của Ba Tư, nhưng điều đó có thể thay đổi theo diễn biến xung đột. Nếu một Ba Tư tuyệt vọng tìm cách gây ra nỗi đau lớn nhứt cho các láng giềng và kinh tế toàn cầu, tác động lên nguồn cung dầu khí thế giới sẽ còn dai dẳng hơn.
Những thiệt hại lớn và lâu dài đối với hạ tầng năng lượng vùng Vịnh, cộng với giai đoạn bất ổn tiềm tàng tại Trung Đông, cuối cùng có thể thuyết phục Trung Hoa khai triển các đường ống dẫn dầu khí mới trên đất liền từ Nga. Đây là điều ông Putin đã cố gắng thuyết phục ông Tập Cận Bình trong suốt một thập niên qua, đặc biệt là từ năm 2022 khi Âu châu bắt đầu cắt giảm sự phụ thuộc vào Nga. Giá năng lượng cao cũng sẽ khiến dầu khí Nga trở nên không thể thay thế. Các viên chức hoạch định chính sách Mỹ và Âu châu khi đó sẽ phải đối mặt với lựa chọn khó khăn: tiếp tục thắt chặt trừng phạt Nga với cái giá kinh tế ngày càng đắt đỏ, hay là phải nới lỏng quan điểm.
Lựa chọn của Nga thì ít phức tạp hơn. Những thất bại gần đây của Điện Kremlin trong việc giúp đỡ các đối tác – tại Tư Lợi Á (Syria), Venezuela (Ủy Nội Thụy Lạp) và Ba Tư – đã phơi bày giới hạn của Nga với tư cách là một cường quốc toàn cầu. Với nguồn lực bị trói buộc ở Ukraine (Ô Khắc Lan), Moscow có thể giúp đỡ rất ít về vật chất cho những người bạn độc tài của mình. Những gì còn lại là một mục tiêu hẹp hòi hơn: kiếm chút tiền từ những hệ quả ngoài ý muốn do sự can thiệp của Mỹ gây ra.
ALEXANDER GABUEV là Giám đốc Trung tâm Carnegie Nga – Á-Âu tại Berlin.
NICOLE GRAJEWSKI là Trợ lý Giáo sư tại Sciences Po và Học giả không thường trực thuộc Chương trình Chánh sách Nguyên tử tại Viện Hòa bình Quốc tế Carnegie. bà là tác giả của cuốn Russia and Iran: Partners in Defiance From Syria to Ukraine.
SERGEY VAKULENKO là Nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Carnegie Nga – Á-Âu tại Berlin.










