Tình trạng suy giảm sức tập trung tưởng như chỉ gặp khi người ta đứng trước những công việc khô khan, nhưng sẽ ra sao nếu nó đang gặm nhấm cả cách giới trẻ tận hưởng đam mê của mình, cụ thể ở đây là điện ảnh?
![]()
Ngay cả các sinh viên chuyên ngành điện ảnh giờ cũng dần không thích xem phim. Craig Erpelding, giáo sư điện ảnh tại Đại học Wisconsin (Mỹ) nói với tờ The Atlantic: “Tôi từng nghĩ rằng nếu bài tập về nhà của mình là xem phim, thì đó hẳn là bài tập về nhà tuyệt nhất. Nhưng đến giờ sinh viên đang không thiết tha với nó nữa”.
Học làm phim mà ngán xem phim
Nhiều giáo sư trong khoa điện ảnh khác cũng phản ánh vấn đề tương tự, ở các lớp từ đại cương cho đến chuyên sâu.
Akira Mizuta Lippit, một giáo sư chuyên ngành phim và truyền thông tại Đại học Southern California (trường có một trong những khoa làm phim đứng đầu nước Mỹ) cho biết các sinh viên trong khoa đang khiến ông liên tưởng đến người đang cắt cơn ghiền thuốc lá.
Mỗi buổi chiếu phim, đầu họ ngọ nguậy không yên, liên tục mở điện thoại kiểm tra tin nhắn. Họ cũng biết rằng mình cần nhìn lên màn hình lớn, nhưng hấp lực của chiếc màn hình nhỏ vẫn khiến họ chào thua.
Gần đây, Lippit cho học sinh xem The Conversation – bộ phim kinh điển năm 1974 của Francis Ford Coppola. Đúng như tên gọi, phim tập trung vào các cuộc hội thoại, không có những cảnh hành động hay những tình tiết giật gân như các tác phẩm nổi tiếng khác của Coppola như The Godfather hay Apocalypse Now.
Biết rõ phim chậm và có thể gây chán, Akira đã rào trước rằng sinh viên gà gật hay lơ đãng suốt phim cũng được, chỉ cần tập trung vào cảnh kết quan trọng của phim. Kết quả là một lời ai oán: “Tôi chỉ cần sinh viên chỉ cần tập trung vào cuối phim thôi – mà điều ấy cũng quá khó” – ông nói.
Trong thời đại streaming phim (phim được truyền tải qua mạng internet) đã quá phổ biến, không ít sinh viên ngành làm phim cho rằng các buổi xem phim bắt buộc trên lớp là không cần thiết nữa. Thế nhưng, khi Đại học Indiana (Hoa Kỳ) cho sinh viên làm bài tập xem phim qua cổng streaming riêng của trường, các giáo sư phát hiện ra hơn 50% sinh viên còn chưa hề bấm vào xem phim, và chỉ khoảng 20% xem đến hết – dù chẳng ai dám chắc họ có đang lướt Instagram khi bộ phim đang bật không.
Giải thích cho hiện tượng này, The Atlantic nhận định rằng chỉ đơn giản là “khẩu vị truyền thông đã thay đổi”. Một báo cáo đăng trên tạp chí khoa học JAMA Pediatrics cho thấy thời lượng trước màn hình (screen time) của trẻ em dưới 2 tuổi tại Mỹ đã tăng gấp đôi từ năm 1997 đến năm 2024, chạm ngưỡng 3 tiếng. Loại màn hình cũng thay đổi, chuyển biến dần từ Ti-Vi sang điện thoại và iPad.
Trưởng thành trong những năm đầu thập niên 2000, Gen Z là thế hệ đầu tiên lớn lên với màn hình di động và thuật toán phim (video) ngắn (như trên YouTube, TikTok, Facebook) từ lúc mới lọt lòng. Nay, Gen Z đang dành trung bình 5 tiếng để lướt video, mỗi video chỉ dừng lại xem chưa đến 20 giây rồi lướt đi. Sẽ không khó hiểu khi lứa sinh viên này gặp khó khi xem những bộ phim chậm rãi, dài trên dưới 3 tiếng mà các khoa làm phim yêu thích.
Lippit nhận định: “Nếu cơ thể và tâm trí của bạn không quen với độ dài của một bộ phim điện ảnh, mọi thứ sẽ cảm giác dài lê thê”.
Ngành phim ảnh cũng bị ảnh hưởng
Không chỉ các sinh viên phim, mà thậm chí một số đạo diễn cũng đang gặp vấn đề tương tự: họ đang xem phim ít hẳn đi.
Penny Lane, đạo diễn của hàng loạt phim tài liệu đình đám trên Netflix, thú thực trên blog cá nhân, rằng: “Có thời tôi thích đọc những cuốn sách dài và khó, mà giờ tôi gần như không đọc sách nữa. Tôi từng xem những bộ phim dài và khó; giờ tôi hầu như cũng chẳng xem phim”.
Dù vậy, Penny Lane ý thức rõ mình vẫn là một đạo diễn và nghệ sĩ – khi làm phim, cô vẫn muốn tạo ra những cảm nhận “điện ảnh” nhất có thể.
Cuộc khủng hoảng sự tập trung dường như đang tạo ra một bất tương đồng trong mỗi quan hệ giữa đạo diễn và khán giả: phim được làm ra để cuốn người xem vào trong thế giới của nó, nhưng người xem thì đang ngần ngừ trước ngưỡng cửa hành trình phim, đi vài bước rồi quay lại vạch xuất phát vì một tin nhắn điện thoại.
“Tôi đã chấp nhận sự thật rằng khán giả chỉ đang xem với một nửa sự chú ý – và như vậy cũng là tốt lắm rồi” – cô nói. Những khẩu quyết như “Phim chỉ có 10 giây đầu để thu hút khán giả” hay “Cảnh đầu tiên chính là trailer phim” đang trở thành tôn chỉ mới trong ngành.
Dù miễn cưỡng, Lane cũng đã áp dụng nguyên tắc “cảnh đầu tiên chính là cảnh quảng cáo (trailer) cho bộ phim”, tức những tình tiết gay cấn được tiết lộ ngay ở vài phút đầu, cho phim tài liệu mới nhất của mình – Happy and You Know It xoay quanh đề tài ngành công nghiệp nhạc thiếu nhi trên HBO Max.
“Cắt đoạn ấy đi và bộ phim có thể còn hay hơn – hay ở đây nghĩa là “điện ảnh hơn” khi chiếu rạp. Còn trên streaming, tôi nghĩ cảnh đầu tiên sẽ rất quan trọng để thu hút và giữ chân người xem”.
![]()
Điều này không có gì lạ ở các kênh streaming phim – nắm trong tay số liệu thống kê, họ vốn đã hiểu quá rõ hành vi “xem như không xem” của người dùng. Tài tử Matt Damon mới đây cũng than phiền rằng cách làm phim đã thay đổi từ thời đại Netflix.
Damon nói về tiến trình làm bộ phim mới, The Rip, rằng: “Lối làm phim tiêu chuẩn mà chúng tôi được học sẽ gồm 3 cảnh cao trào, mỗi cảnh ở một hồi khác nhau của phim. Cảnh được đầu tư nhất sẽ là cảnh cuối. Nhưng ngày nay, họ yêu cầu, liệu có thể cho cảnh đặc sắc ở 5 phút đầu phim để giữ hứng thú cho khán giả không?”.
Xu hướng này hẳn khiến các đạo diễn, trong đó có Penny Lane, trải qua ít nhiều khủng hoảng.
“Kiểu như, tôi có đang làm phim không vậy? Sao có vẻ giống làm phim truyền hình? Hoặc nội dung giải trí trên mạng? Hơn hết, tôi lo rằng, nếu bản thân tôi không thể chìm vào bóng tối của rạp phim và quy phục trước tầm nhìn của người nghệ sĩ, thì tôi có mặt mũi nào để yêu cầu khám giả làm điều tương tự?”
Dù vậy, bức tranh không hoàn toàn xám xịt, bởi vẫn có những ngoại lệ mới khước từ luật chơi – cụ thể như Adolescene – series đang đạt kỷ lục ăn khách đứng hàng thứ 2 mọi thời đại trên Netflix. Affleck hào hứng nói: “Phim rất bi kịch và căng thẳng, nói về người cha có đứa con bị cáo buộc giết người, với những cảnh quay dài sau gáy, hay những cảnh trong xe hơi chẳng ai nói năng gì”.
Lấy độc trị độc
Một số giáo sư coi những bộ phim chậm là “thuốc giải” cho vấn đề giảm tập trung ở sinh viên. Kyle Stine, giáo sư ngành làm phim và truyền thông tại đại học John Hopkins đang thử nghiệm một khóa học về “slow cinema” – các phim theo trường phái tối giản, với những cảnh quay dài, gần như không có cốt truyện – nhằm giúp các sinh viên kéo dài khả năng tập trung.
Rick Warner tại Đại học North Carolina sẽ cố ý chọn các phim chậm như Jeanne Dielman, 23 quai du Commerce, 1080 Bruxelles của Chantal Akerman, một bộ phim dài 3 tiếng với các cảnh làm việc nhà hay nói chuyện hàng ngày của một phụ nữ.
Ông nói, “Tôi đưa vào giảng dạy các bộ phim giúp thách thức thói quen xem phim, nhằm thuyết phục sinh viên rằng phim có thể giúp họ luyện lại nhãn quan và giúp họ lấy lại khả năng tập trung. Thử thách này được khá nhiều sinh viên đón nhận”.
Nhiều người thuộc thế hệ Gen Z cũng tự nhận thức được vấn đề – họ coi phim dài là phương pháp trị liệu. Nhận thấy mình cần được “giải độc” khỏi nội dung ăn liền, Aldila, chủ kênh YouTuber cùng tên chọn chính bộ phim của Chantal Akerman để xem, sau đó ghi lại phản ứng của bản thân.
Aldila nói nửa đùa nửa thật về một loại hình nội dung theo kiểu mì-ăn-liền thường thấy trên TikTok, rằng: “Sau 10 phút đầu, tôi đã ước rằng bộ phim có gắn kèm cảnh chơi game Subway Surfers sang bên cạnh”.
Tuy nhiên, sau nửa đầu phim liên tục suy nghĩ vẫn vơ và lấy điện thoại ra xem, tâm trí của anh bắt đầu “nhập” vào bộ phim trong nửa sau, một trạng thái mà anh mô tả là “định tâm”. “Trong chỉ 3 tiếng rưỡi, Jeanne Dielman đã giúp tôi đạt được một kết quả mà ngồi thiền thông thường phải mất nhiều tháng mới có được”.
![]()
Tiêu đề phim của Aldila: “Bộ phim này chữa chứng mất tập trung của tôi”
Giả thuyết của Aldila: Bằng việc xem Jeanne làm những công việc thường nhật, bộ phim đã điều chỉnh kỳ vọng của anh về nhịp độ của cuộc sống thường nhật, bởi không giống như trên TikTok, 90% cuộc sống của chúng ta đều chậm rãi và lặp lại như vậy.
Kết quả này nhắc gì cho chúng ta về giá trị của điện ảnh? Theo Federico Fellini, đạo diễn vĩ đại người Ý, “một cảm xúc [trong phim] không nên bị ngắt quãng”. Ông phê bình cách truyền hình – và khả năng đổi kênh với chỉ một nút bấm của nó – khiến đạo diễn không còn khả năng điều khiển khám giả, thay vào đó, khám giả lại là người điều khiển đạo diễn.
Những dự đoán này vẫn còn giá trị đến ngày nay, khi nhu cầu được giải trí và kích thích dẫn đến những trông đợi bất hợp lý về dopamine (chất dẫn truyền thần kinh tạo động lực/niềm vui) mà khán giả mong muốn cuộc sống thực mang lại. Những trông đợi này ảnh hưởng đến ngành phim ảnh, bởi điện ảnh thực thụ, suy cho cùng, là một sự tôn vinh vẻ đẹp của cuộc sống.
Dù vậy, Gen Z cũng có thể là những người dẫn đầu giải pháp: phong trào tìm về công nghệ analog, đĩa vinyl cũng như “thải độc nội dung số” (digital detoxing) mấy năm gần đây cũng cho thấy người trẻ sẵn sàng đi ngược lại quy chuẩn của đại chúng.
Aldila nói, “Tôi cho rằng cảm nhận với phim của Chantal Ackerman đã cho tôi nhìn thấy một khung cảnh cuộc sống, nơi tôi có thể tận hưởng những điều nhỏ nhặt và lấy lại độ nhạy trong cảm xúc của mình – tất cả đạt được nhờ việc tôi yêu thích nhất, đó là xem những bộ phim hay”.
|
Doanh thu tỷ Mỹ kim của những bộ phim trên 3 tiếng – Oppenheimer (180 phút, gần 1 tỉ Mỹ kim) và Avatar: The Way of Water (192 phút, 2,3 tỉ Mỹ kim) – là minh chứng rõ rệt cho thấy phim dài không hề biến mất, mà vẫn tìm được thành công riêng của mình trong kỷ nguyên tiêu thụ nhanh. Lynn Spiegel giáo sư đạo học Northwestern (Mỹ) lạc quan: “Sẽ vẫn luôn có những người thực sự đam mê việc làm và sẵn sàng ngồi xem những bộ phim cũ, chậm rãi”. |
(Theo cuoituan.tuoitre.vn)









