Cuộc chiến Ba Tư có ý nghĩa gì đối với Trung Hoa?

Nguồn: Zongyuan Zoe Liu, “What the Iran War Means for China”, Foreign Affairs, 30/03/2026

 

Biên dịch: Viên Đăng Huy (nghiencuuquocte.org)

(Huy Le phụ đính)

 

Chủ tịch Trung Hoa Cộng Sản, Tập Cận Bình, đang có được một nước Mỹ đúng như ông hằng mong muốn. Kể từ khi Tổng thống Donald Trump trở lại Tòa Bạch Ốc vào năm 2025, Hoa Thịnh Đốn ngày càng mất đi sự tự tin vào mục tiêu toàn cầu của mình, bớt cam kết hơn với trật tự dựa trên luật lệ mà họ từng duy trì, và sẵn lòng thực thi quyền lực theo những cách làm chao đảo các thị trường, các thể chế và các đồng minh. Uy tín và thẩm quyền toàn cầu của Hoa Thịnh Đốn đang dần bị mài mòn.

 

Theo một nghĩa nào đó, đây là tin tốt cho Bắc Kinh. Một Hoa Thịnh Đốn yếu hơn, không còn đạo đức sẽ khó quy tụ các nước khác xung quanh mình hơn. Nó tạo ra một hình mẫu kém thuyết phục hơn. Mỹ trở nên kém năng lực hơn trong việc tổ chức các liên minh và có xu hướng đẩy những đối tác mà nước này thực sự cần để đối trọng với Trung Hoa ra xa. Trong nhiều thập niên, các qaun chức lãnh đạo Trung Hoa đã muốn một nước Mỹ đủ mạnh để duy trì sự ổn định của nền kinh tế toàn cầu và ngăn chặn sự sụp đổ hệ thống hoàn toàn, nhưng không còn có thể định hình trật tự quốc tế theo cách kìm hãm sự trỗi dậy của Trung Hoa. Tập Cận Bình hiện đang tiến gần đến kết quả đó hơn bất kỳ hoàng đế hay quan chức lãnh đạo đảng nào trong hai thế kỷ qua.

Tuy nhiên, đây không phải là một chiến thắng rõ ràng cho Trung Hoa. Tập Cận Bình không chỉ đơn thuần muốn một nước Mỹ bị suy yếu. Ông muốn một nước Mỹ vẫn giúp bảo trợ cho một trật tự thế giới ổn định. Sự khác biệt này rất dễ bị bỏ qua tại Hoa Thịnh Đốn, nơi các chuyên viên phân tách thường giả định rằng cạnh tranh địa chánh trị giống như một bảng điểm đang chạy: nếu Mỹ thua thì Trung Hoa phải thắng, và ngược lại. Nhưng Bắc Kinh không giải thích mọi thất bại của Mỹ là thắng lợi của Trung Hoa, và các quan chức lãnh đạo Trung Hoa không mặc định rằng mọi kẽ hở địa chánh trị đều phải được khai thác.

 

Thường thì họ sẽ chờ đợi, quan sát và tính toán bước đi tiếp theo. Họ không chỉ hỏi đơn thuần liệu Mỹ có bị yếu đi hay không, mà là liệu môi trường xung quanh đã trở nên ổn định hơn hay hỗn loạn hơn. Bắc Kinh quan tâm liệu thương mại có tiếp tục lưu thông, vận tải năng lượng có đến đúng hạn, và liệu các cuộc khủng hoảng toàn cầu có được kiềm chế hay sẽ đổ vỡ dây chuyền. Đối với Trung Hoa, sự ổn định không phải là một lựa chọn cảm tính. Đó là tiền đề cho việc tiếp tục tăng cường sức mạnh quốc gia.

Cuộc chiến Mỹ-Do Thái chống lại Ba Tư, vốn đã bùng phát thành một cuộc khủng hoảng khu vực, đang là phép thử có hậu quả lớn nhất từ trước đến nay đối với sự kiềm chế sách lược của Trung Hoa. Không giống như cuộc chiến của Nga tại Ukraine, chiến tranh ở Ba Tư đe dọa các lợi ích sách lược cốt lõi của Trung Hoa – không phải vì sự lệ thuộc cấp tính vào nguồn dầu mỏ Trung Đông, mà vì một Hoa Thịnh Đốn ngày càng thất thường đang làm lung lay trật tự toàn cầu mà Bắc Kinh dựa vào để tồn tại.

 

Nguy hiểm đối với Trung Hoa không nằm ở sự khan hiếm tức thời mà nằm ở sự hỗn loạn. Một nước Mỹ chỉ đơn giản là yếu đi thì vẫn có thể xoay xở được; nhưng một nước Mỹ khó lường, hung hăng và không còn bị kiềm chế bởi chánh hệ thống mà nó từng dẫn dắt thì nguy hiểm hơn nhiều. Một nước Mỹ đang phai nhạt có thể tạo ra cơ hội; nhưng một nước Mỹ biến động sẽ phá hủy chính những điều kiện cho phép những cơ hội đó hiện thực hóa. Điều Bắc Kinh lo sợ không phải là việc Hoa Thịnh Đốn mất đi quyền lực, mà là họ sẽ thực thi phần quyền lực còn lại theo những cách khiến thế giới trở nên khó định hướng hơn. Đối diện với một Hoa Thịnh Đốn ngày càng liều lĩnh, ban lãnh đạo Trung Hoa sẽ hành động thận trọng, bảo vệ các điểm yếu của mình và khước từ gánh vác những trách nhiệm toàn cầu mà họ chưa đủ nguồn lực để đảm đương.

Phản ứng yếu ớt của Trung Hoa đối với cuộc chiến Ba Tư — thông qua các nỗ lực ngoại giao, kêu gọi ngừng bắn và tránh can thiệp quân sự trực tiếp — không phản ánh sự thờ ơ hay thừa nước đục thả câu. Đó là một nỗ lực có tính toán nhằm quản trị rủi ro hệ thống, bảo tồn các điều kiện ngoại cảnh cần thiết cho dòng chảy thương mại và vốn, đồng thời bảo vệ nền tảng cho sự thăng tiến dài hạn của Trung Hoa. Thách thức của Trung Hoa, do đó, không chỉ là trỗi dậy trong lòng hệ thống toàn cầu mà là sống sót qua sự tan rã của nó. Trong một thế giới bị định hình ngày càng nhiều bởi sự gián đoạn thay vì sự sắp đặt, mối đe dọa lớn nhất đối với tham vọng của Trung Hoa có lẽ không phải là sức mạnh của Mỹ, mà là sự bất ổn của Mỹ.

 

Giữa hai thế giới

Kể từ khi mở cửa lại với thế giới vào năm 1979, Trung Hoa đã tích lũy tài sản và quyền lực trong một hệ thống quốc tế được xây dựng và duy trì bởi Mỹ. Bắc Kinh đã khai thác trật tự đó, gây sức ép với nó và xây dựng các phương thức thay thế xung quanh nó. Nhưng họ vẫn phụ thuộc vào những điều kiện thiết yếu mà trật tự đó cung cấp: các tuyến hàng hải thông suốt, các thị trường mở rộng, khả năng vay mượn và giao dịch bằng đồng USD, và các định chế đa phương đủ vững chãi để hấp thụ các cú sốc địa chánh trị trước khi chúng biến thành rủi ro mang tính hệ thống.

Sự lệ thuộc đó rất sâu sắc. Khi ông Tập thúc đẩy nền kinh tế hướng tới sự tự lực tự cường lớn hơn nhân danh an ninh, ngành công nghiệp Trung Hoa đã phải đối mặt với lợi nhuận sụt giảm và dư thừa công suất gia tăng — những dấu hiệu cho thấy sự căng thẳng mà cuộc chuyển biến này kéo theo. Để bù đắp, Bắc Kinh đã phát triển một bộ công cụ ngày càng tinh vi về nghệ thuật quản trị kinh tế, tận dụng việc thâm nhập thị trường nội địa, sự thống trị chuỗi cung ứng đất hiếm, các khoản vay và thỏa thuận đầu tư, cùng các công cụ cưỡng chế như kiểm soát xuất cảng và trừng phạt. Nhưng những công cụ này được xây dựng trên một giả định cốt yếu: hệ thống quốc tế phải duy trì được sự ổn định, có thể dự báo và vận hành bằng luật lệ thay vì quyền lực thuần túy.

 

Tiền đề đó hiện đang bị nghi vấn. Các hành động quân sự gần đây của Hoa Thịnh Đốn tại Ủy Nội Thụy Lạp (Venezuela) và Ba Tư, được thực hiện với rất ít sự quan tâm đến các hệ lụy kinh tế hay luật pháp quốc tế, đã nhấn mạnh một thực tế mà các cơ quan phụ trách sách lược Trung Hoa không thể làm ngơ: hệ thống do Mỹ dẫn dắt mà họ đã học cách định hướng và khai thác đang rạn nứt, và việc tái định hình trật tự đang diễn ra có thể không phục vụ lợi ích của Bắc Kinh. Các quan chức lãnh đạo Trung Hoa coi Mỹ là một cường quốc đang suy tàn, nhưng, lại đang trở nên nguy hiểm hơn chứ không phải ngược lại. Họ hiểu rằng khi đòn bẩy kinh tế và ngoại giao của Hoa Thịnh Đốn suy giảm, quốc gia này có thể ngày càng quay sang hình thức quyền lực duy nhất mà họ đang có thừa: lực lượng quân sự.

Từ điểm nhìn của Bắc Kinh, các cuộc can thiệp của chánh quyền Trump ở Ủy Nội Thụy Lạp (Venezuela) và Ba Tư trông không giống như việc quản trị một đế chế đầy tự tin, mà giống một đế chế giai đoạn cuối đang giãy chết, kẻ tìm cách khai thác ưu thế quân sự còn sót lại khi vẫn còn có thể. Một nước Mỹ biến động hơn, ít kiềm chế hơn không mang lại niềm an ủi nào cho giới tinh hoa Trung Hoa, những người nhạy cảm với các rủi ro gây ra bởi một kẻ bá quyền không còn tin vào trật tự của chính mình nhưng vẫn sở hữu năng lực hủy diệt vô đối.

 

Nếu sức mạnh của Mỹ chỉ đơn thuần là đang phai nhạt, Trung Hoa có thể bị cám dỗ hành động nhanh chóng để nắm bắt thời cơ và củng cố vị thế của mình. Nhưng nếu sự suy tàn của Mỹ diễn ra dưới hình thức cưỡng chế kinh tế leo thang, sự đổ vỡ của các thể chế và quy tắc thương mại toàn cầu, cùng sự hung hăng quân sự, Bắc Kinh có thể thay vào đó thấy mình ở vị thế phải bảo vệ, ít nhất là về mặt ngôn từ, các yếu tố của trật tự hiện tại chống lại hành vi gây rối của Mỹ. Đối với ban lãnh đạo Trung Hoa, vấn đề không phải là Mỹ đang biến mất với tư cách là người lãnh đạo hệ thống toàn cầu. Vấn đề là Mỹ có thể vẫn đủ mạnh để gây hấn, trong khi cách họ xử dụng quyền lực đó lại ngày càng trở nên khó dự đoán.

 

Không có kẻ thắng

Cuộc chiến ở Ba Tư minh họa động lực này bằng những thuật ngữ trần trụi. Đối với nhiều người ở Hoa Thịnh Đốn, một chiến dịch quân sự liều lĩnh khác của Mỹ ở Trung Đông có vẻ là một món quà sách lược cho Trung Hoa. Lý luận ở đây là nếu Mỹ bị sa lầy vào một cuộc xung đột khu vực khác, Bắc Kinh sẽ rảnh tay hơn ở Á châu. Nhưng ban lãnh đạo Trung Hoa không coi cuộc khủng hoảng là một trò chơi có tổng bằng không. Một Trung Đông bất ổn hơn không thể dễ dàng chuyển thành lợi thế cho Trung Hoa. Cả Hoa Thịnh Đốn lẫn Bắc Kinh đều sẽ không thoát khỏi những hệ lụy địa chánh trị và kinh tế của cuộc chiến này mà không bị tổn thương.

Đối với Trung Hoa, việc đóng cửa eo biển Hormuz không phải là một mối bận tâm trừu tượng. Trung Hoa là quốc gia nhập cảng dầu thô lớn nhất thế giới, với khoảng 70% nguồn cung đến từ nước ngoài, khoảng một phần ba trong số đó phải đi qua eo biển này. Bất chấp rủi ro này, Trung Hoa vẫn đứng ngoài vòng xoáy ảnh hưởng trong ngắn hạn. Trong những tuần kể từ khi chiến tranh bắt đầu, giá xăng ở Trung Hoa đã tăng khoảng 10%, so với mức khoảng 25% ở Mỹ. Xuất cảng dầu của Ba Tư sang Trung Hoa vẫn tiếp tục đi qua eo biển, và Bắc Kinh duy trì kho dự trữ dầu thiết yếu lớn nhất thế giới, tương đương với vài tháng nhu cầu trong nước.

 

Một cuộc chiến kéo dài gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng dầu khí ở Ba Tư và các quốc gia láng giềng vùng Vịnh sẽ đặt ra những rủi ro lớn hơn nhiều, đe dọa an ninh năng lượng của Trung Hoa và dẫn đến một sự tiềm tàng trì trệ kinh tế nghiêm trọng. Nền kinh tế định hướng xuất cảng của Trung Hoa phụ thuộc vào sự vận hành trơn tru của thương mại toàn cầu. Xuất cảng chiếm khoảng 20% GDP, với gần như tất cả được vận chuyển bằng đường biển. Việc chậm trễ vận chuyển, chi phí bảo hiểm cao hơn và việc phải đi vòng qua các điểm nghẹt sẽ làm tăng chi phí cho các công ty xuất cảng. Đồng thời, giá năng lượng cao hơn sẽ làm giảm nhu cầu toàn cầu, làm giảm doanh số bán hàng ra nước ngoài và nhanh chóng chuyển hóa thành áp lực kinh tế trong nước. Không điều nào trong số này phục vụ lợi ích của Bắc Kinh.

Những điểm yếu này không chỉ quan trọng về mặt kinh tế mà còn về mặt địa chánh trị. Việc theo đuổi quyền tự chủ sách lược của Trung Hoa vẫn phụ thuộc vào một hệ thống toàn cầu luôn mở và có thể dự đoán được. Đối với Bắc Kinh, tự chủ sách lược không có nghĩa là tự cung tự cấp mà là việc có thể vận hành trong hệ thống đó theo các điều kiện thuận lợi thông qua việc tích lũy đều đặn sức mạnh kinh tế. Trung Hoa đã và đang chuẩn bị cho một thế giới hỗn loạn hơn, nhưng sự chuẩn bị không hàm ý Bắc Kinh muốn điều đó. Việc thúc đẩy năng lực tự lực tự cường của họ là nhằm giảm thiểu sự dễ tổn thương, chứ không phải để biến Trung Hoa thành một kẻ thắng cuộc tương đối trong một thế giới bất ổn.

 

Những lo ngại về sự bất ổn gia tăng đã bắt đầu xuất hiện trong kế hoạch kinh tế của Trung Hoa. Trong Kế hoạch Năm năm mới nhất, Bắc Kinh đã hạ mục tiêu tăng trưởng xuống còn khoảng 4,5 đến 5%, mức thấp nhất trong nhiều thập niên — một sự thừa nhận rằng môi trường toàn cầu vốn từng thúc đẩy sự trỗi dậy của họ đang trở nên kém tin cậy hơn. Tăng trưởng chậm không còn được coi là một sự chệch hướng có tính chu kỳ mà là một sự kìm hãm mang tính cấu trúc gây ra bởi áp lực nhân khẩu học, căng thẳng thương mại bên ngoài và sự bất ổn gia tăng.

Đồng thời, Bắc Kinh đang ưu tiên cái mà họ gọi là “ực lượng sản xuất chất lượng mới” — các công nghệ tân tiến nhằm duy trì tăng trưởng khi các lĩnh vực như bất động sản chậm lại. Sự chuyển biến này khiến sự bất ổn bên ngoài thậm chí còn nguy hiểm hơn đối với Trung Hoa. Sản xuất tân tiến là ngành thâm dụng vốn và phụ thuộc sâu sắc vào các đầu vào ổn định: năng lượng, khoáng sản thiết yếu, thiết bị chính xác và các mạng lưới tri thức phân bổ toàn cầu. Sự gián đoạn của bất kỳ yếu tố nào trong số này cũng làm tăng chi phí, trì hoãn sản xuất và khuếch đại rủi ro tài chánh. Trong một môi trường địa chánh trị biến động hơn, các lĩnh vực vốn được dùng để bảo đảm năng lực cạnh tranh dài hạn của Trung Hoa lại trở nên dễ tổn thương hơn trước các cú sốc hệ thống.

 

Đó là lý do tại sao Bắc Kinh ưa thích việc khôi phục sự ổn định hơn là một vai trò mở rộng trong một trật tự hỗn loạn hơn. Họ muốn có được năng lượng, thị trường và tầm ảnh hưởng ở Trung Đông — chứ không phải những gánh nặng của việc ổn định khu vực hay cân bằng giữa các cường quốc đang đối đầu. Bất chấp việc cuộc chiến ở Ba Tư kéo dài bao lâu, Trung Hoa khó lòng hộ tống tàu bè qua eo biển Hormuz, gây áp lực lên Tehran hay cố gắng thay thế Hoa Thịnh Đốn làm cảnh sát khu vực. Điều này phản ánh sự thận trọng chứ không phải thờ ơ. Các quan chức lãnh đạo Trung Hoa vẫn rất cảnh giác với việc sa lầy vào nước ngoài, đặc biệt là ở Trung Đông, nơi các cường quốc có một lịch sử dài về việc tiêu tốn uy tín và tiền bạc vào các cuộc xung đột mang lại ít lợi ích sách lược.

Ban lãnh đạo Trung Hoa cũng áp dụng phép tính lạnh lùng tương tự với Đài Loan. Một nước Mỹ bị xao lãng thực sự có thể tạo ra một kẽ hở quân sự hoặc chánh trị. Bắc Kinh nhận thấy khi Hoa Thịnh Đốn bị dàn trải trên nhiều chiến trường. Nhưng ở đây một lần nữa, các chuyên viên phân tách Mỹ thường giả định rằng chỉ cần sự tồn tại của một kẽ hở sẽ thôi thúc Trung Hoa hành động. Tính toán của Bắc Kinh đa tầng hơn thế. Các quan chức lãnh đạo Trung Hoa không chỉ hỏi liệu Mỹ có bị xao lãng hay không. Họ còn hỏi rằng họ sẽ phải đối mặt với một nước Mỹ như thế nào trong một cuộc đọ sức sinh tử vì hòn đảo này.

 

Câu trả lời cho câu hỏi đó thật đáng báo động. Một nước Mỹ kém ổn định hơn, quân sự hóa hơn và ngày càng dựa vào vũ lực như một lợi thế so sánh rõ ràng nhất có thể sẽ nguy hiểm hơn trong một cuộc khủng hoảng Đài Loan, chứ không phải ngược lại. Nếu Bắc Kinh tin rằng Hoa Thịnh Đốn đang hành xử như một đế chế đến giai đoạn cuối — suy giảm về tính chánh danh và sự tự tin nhưng vẫn vô đối về quyền lực cứng và khao khát xử dụng nó — thì việc kích động một cuộc xung đột sẽ trở nên rủi ro hơn nhiều.

Hơn nữa, các quan chức lãnh đạo Trung Hoa nhận ra rằng một cuộc xâm lược hoặc phong tỏa Đài Loan sẽ không diễn ra trong một môi trường biệt lập. Nó sẽ làm gián đoạn thương mại, gây bất ổn các thị trường tài chánh, làm căng thẳng vận tải hàng hải toàn cầu và đe dọa quan hệ với các thị trường xuất cảng then chốt, đặc biệt là Âu châu và Nhựt Bổn. Đối với Bắc Kinh, kết hợp lại chúng vô cùng kém hấp dẫn.

 

Cung điện đang sụp đổ

Chắc chắn, Bắc Kinh muốn thay đổi cán cân khu vực ở Á châu, làm yếu đi các liên minh của Mỹ, sáp nhập Đài Loan và xây dựng một thế giới ít bị tổn thương hơn trước áp lực của Mỹ. Nhưng các phương pháp ưa thích của Trung Hoa vẫn là tích tiểu thành đại và phi đối xứng: chính sách công nghiệp, lấy việc thâm nhập thị trường làm đòn bẩy, các cuộc vận động ảnh hưởng chánh trị, các chiến thuật “vùng xám” như lấn chiếm biển và gián điệp mạng, và việc dần xây dựng một hệ thống tài chánh song song với việc bỏ qua đồng USD. Bắc Kinh tìm cách tích lũy lợi thế mà không phá hủy hệ thống.

 

Ông Tập vẫn có lý do để theo đuổi một mối quan hệ làm việc tốt đẹp với Trump. Trung Hoa hưởng lợi từ một mối quan hệ có giới hạn với Mỹ xoay quanh thương mại có thể dự báo và có lợi nhuận. Một nước Mỹ thất thường, thay đổi xoành xoạch giữa chủ nghĩa bảo hộ, liều lĩnh về quân sự và ngẫu hứng sách lược không phải là món quà cho Trung Hoa. Bắc Kinh muốn cạnh tranh trong những điều kiện vẫn còn có thể lý giải.

Đối với ông Tập, cuộc gặp sắp tới với Trump tại Bắc Kinh mang lại một cơ hội chánh trị. Các quan chức Trung Hoa thích thực thi chánh trị quyền lực thông qua những hình ảnh được kiểm soát hơn là thông qua xung đột quân sự hay làm gián đoạn thương mại. Dù chưa có chương trình nghị sự chánh thức nào được công bố, các quan sát viên kỳ vọng hội nghị thượng đỉnh sẽ kéo dài sự đình chiến trong cuộc chiến thương mại và tiềm tàng khởi động một sự xích lại gần nhau rộng lớn hơn giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn. Nhưng cuộc chiến ở Ba Tư đã buộc Trump phải hoãn cuộc gặp rất được mong đợi này, vốn ban đầu được lên kế hoạch vào cuối tháng 3/2026. Cuộc chiến ở Ba Tư càng kéo dài, Bắc Kinh càng khó ổn định quan hệ với Hoa Thịnh Đốn và định hình các điều kiện cạnh tranh trong tương lai.

 

Trong khi chờ đợi Hoa Thịnh Đốn, Bắc Kinh sẽ tiếp tục thực thi sự thận trọng. Bất chấp những chuyển biến mang tính kiến tạo trong chánh sách đối ngoại của Mỹ dưới chánh quyền Trump, mục tiêu bao trùm của ban lãnh đạo Trung Hoa vẫn không thay đổi: cân bằng các rủi ro ngắn hạn, bao gồm các cú sốc năng lượng, gián đoạn thương mại và biến động thị trường, chống lại mục tiêu dài hạn hơn là tự chủ sách lược và quan hệ ổn định với Hoa Thịnh Đốn. Phép tính đó phản ánh một điều cơ bản về thế giới quan của Trung Hoa. Bắc Kinh không còn nhìn nhận các mối quan hệ quốc tế thông qua lăng kính hệ tư tưởng mà nhiều hơn qua lăng kính thương mại. Họ không chia thế giới thành bạn và thù cho bằng việc chia thành khách hàng và công ty cung cấp thương phẩm. Điều đó không làm Trung Hoa bớt đi tính sách lược. Nó làm cho sách lược của họ thực tế hơn, mang tính giao dịch hơn, và quan tâm đến việc duy trì công việc kinh doanh như thường lệ hơn là theo đuổi một sứ mệnh văn minh (với những xung đột và chi phí đi kèm).

 

Nghịch lý lớn, do đó, là Tập Cận Bình vừa có được điều ông khao khát nhất (một nước Mỹ kém tin cậy hơn, kém tự tin hơn và kém năng lực hơn) vừa có được điều ông sợ nhất: một hệ thống quốc tế biến động hơn. Một nước Mỹ đang suy tàn có thể chứng minh là nguy hiểm hơn một nước Mỹ hùng mạnh: một siêu cường không vững chãi ngày càng bị cám dỗ xử dụng võ lực trong khi vẫn còn có thể. Các quan chức lãnh đạo Trung Hoa hiểu điều mà các viên chức hoạch định chánh sách Mỹ thường bỏ lỡ: không phải mọi thứ làm yếu đi Mỹ đều làm mạnh thêm Trung Hoa. Những bước đi sai lầm của chánh quyền Trump không mang lại lợi thế cho Trung Hoa nhiều bằng việc gây bất ổn cho hệ thống mà cả hai cường quốc vẫn còn phụ thuộc vào.

Có một câu thành ngữ cổ của Trung Hoa dành cho những thời kỳ xáo trộn: Độc mộc nan chi (một cây gỗ khó lòng chống đỡ cả cung điện đang sụp đổ). Tại Bắc Kinh, các quan chức đang chạy đua để gia cố cấu trúc, trong khi tại Hoa Thịnh Đốn, họ đang đập bỏ những bức tường để xây thêm một phòng khiêu vũ.

 

Zongyuan Zoe Liu là Chuyên gia cấp cao Maurice R. Greenberg về Nghiên cứu Trung Hoa tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR), đồng thời là Học giả nghiên cứu cao cấp tại Viện Chánh trị Toàn cầu thuộc Trường Quan hệ Quốc tế và Công chúng (SIPA) của Đại học Columbia. Bà là tác giả cuốn Sovereign Funds: How the Communist Party of China Finances Its Global Ambitions.

 

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận