
Ảnh: hình minh diễn, Elva Etienne/Getty Images
Tác giả, Hannah Harris Green
(Huy Le biên dịch)
Các chuyên gia cho rằng hướng dẫn này “rất mới mẻ” vì nó nhấn mạnh hơn vào trách nhiệm của các công ty và xã hội.
Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ đã ban hành hướng dẫn mới về cách bảo vệ sức khỏe tinh thần của trẻ em trong thời đại kỹ thuật số – nhấn mạnh sự cần thiết của những thay đổi mang tính hệ thống cũng như sự tham gia của phụ huynh chứ không chỉ là việc giới hạn thời gian xử dụng màn hình.
Jessica Schleider, là chuyên gia về tâm lý học vị thành niên và là giáo sư tại Đại học Northwestern, người có phòng thí nghiệm đang lập ra các biện pháp can thiệp sức khỏe tinh thần/tâm lý kỹ thuật số bằng các ứng dụng/phần mềm (ứng dụng di động/nền tảng trực tuyến) (digital mental health), cho biết chánh sách mới trên của Học Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ “thực sự rất đáng mừng”, bởi vì nó trái ngược với quan niệm thông thường đặt quá nhiều gánh nặng an toàn lên vai từng bậc cha mẹ. Lời khuyên phổ biến như “giới hạn quyền xử dụng màn hình của từng thanh thiếu niên”, hoặc yêu cầu cha mẹ theo dõi mọi hoạt động xử dụng thiết bị kỹ thuật số của con cái là “không chỉ bất khả thi, mà đối với thanh thiếu niên nói riêng, còn có thể xâm phạm quyền riêng tư”, Schleider nói.
Thay vào đó, Học Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics – AAP) đang “nhấn mạnh hơn vào trách nhiệm cấu trúc/trách nhiệm mang tính hệ thống (structural responsibility) của các công ty và của xã hội”, Schleider cho biết. Tuyên bố của AAP khuyến cáo các quy định nhằm giới hạn “nội dung công khai, mang tính tình dục, thương mại hóa hoặc có hại cho thanh thiếu niên”, bao gồm cả các thuật toán dẫn dắt thanh thiếu niên và trẻ em vào những nội dung gây hại.
Hướng dẫn này cũng tinh tế hơn so với những động thái gần đây hướng tới việc cấm hoàn toàn mạng xã hội đối với một số nhóm tuổi nhất định. Tháng trước, Úc đã cấm tất cả các trương mục mạng xã hội đối với thanh thiếu niên dưới 16 tuổi.
Schleider cho rằng lệnh cấm này “rất đáng tiếc” bởi vì mặc dù các nền tảng mạng xã hội thực sự được thiết kế theo cách có hại, nhưng lệnh cấm không làm cho các nền tảng đó an toàn hơn.
Bà nói, “Mạng xã hội là nơi đầu tiên và thường là duy nhất mà giới trẻ tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ, và việc cắt đứt điều đó ngay lập tức mà không có cảnh báo sẽ gây ra những hậu quả rất bất lợi”.
Trong nghiên cứu của mình, Schleider đã phát hiện ra rằng thanh thiếu niên cần điều trị sức khỏe tinh thần có nhiều cơ hội được tiếp cận được dịch vụ điều trị hơn ở những tiểu bang không yêu cầu sự đồng ý của phụ huynh. Đây là một ví dụ cho thấy, theo quan điểm của Schleider, việc thanh thiếu niên có một mức độ tự chủ nhất định trong cuộc sống kỹ thuật số sẽ tốt hơn cho sức khỏe của họ.
Tuyên bố chính sách của Học Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ bao gồm lời khuyên cho cha mẹ và người chăm sóc trẻ em khác, bao gồm việc theo dõi thói quen sử dụng thiết bị kỹ thuật số của cả gia đình và lập ra các biện pháp kiểm soát của phụ huynh.
Tiến sĩ Tiffany Munzer, bác sĩ nhi khoa về hành vi tuổi thanh thiếu niên tại Đại học Michigan và là tác giả chính của hướng dẫn nói ở trên, cho biết “rất khó để giám sát màn hình 24/7”, nhưng khuyến cáo “kiểm tra định kỳ để xem trẻ đang làm gì”.
Teri McKean, giám đốc điều hành hỗ trợ tâm lý cho Liên minh Quốc gia về Bệnh tinh thần (National Alliance on Mental Illness) ở thành phố Chicago, có bốn người con từ 9 đến 24 tuổi. Bà sử dụng hệ thống kiểm soát của phụ huynh do Google cung cấp để giám sát điện thoại của con gái 13 tuổi, yêu cầu con phải xin phép trước khi tải xuống bất kỳ ứng dụng nào, và hệ thống này sẽ gắn cờ “bất kỳ nội dung nào có thể được coi là có vấn đề trong bất kỳ cuộc giao tiếp nào của con”. Hệ thống này cũng đặt ra giới hạn về thời giờ xử dụng màn hình.
Nhưng McKean không chỉ dựa vào các ứng dụng để giám sát hành vi của con cái – bà cũng trò chuyện với chúng về điều đó.
“Ngày nào con tôi cũng hỏi: ‘Mẹ ơi, con dùng Snapchat được không? Mẹ ơi, con dùng Instagram được không?’ Và tôi nói, dù sao thì con cũng dành đủ thời gian cho điện thoại rồi,” McKean nói. Con gái 13 tuổi của cô cũng đồng tình.
Munzer nhấn mạnh rằng việc duy trì cuộc trò chuyện cởi mở là rất quan trọng.
“Hãy hỏi con: ‘Con thích gì ở trò chơi đó? Con có thấy quảng cáo nào trên màn hình không?’ Điều đó sẽ tạo ra một chút mở rộng để hiểu hơn về những gì mà trẻ trải qua,” Munzer nói, nhắc nhở rằng điều quan trọng là “xây dựng những cách giao tiếp này từ sớm”, không chỉ giúp cha mẹ hiểu thế giới kỹ thuật số của con cái mà còn xây dựng mối quan hệ bền chặt hơn với chúng. Nhìn nhận mạng xã hội như một hoạt động nhóm cũng có thể giúp giảm bớt sự cô lập và làm cho mối quan hệ bền chặt hơn.
McKean thích xem các đoạn phim ngắn (video) trên mạng xã hội cùng các con: “Những video về nhóm nhạc KPop Demon Hunters mà các ông bố xem rất hài hước. Các ông bố rất thích âm nhạc, chúng tôi đều thích cười khi xem những đoạn phim ngắn (video) đó.”
Trong khi đó, Ben Blair, một thầy giáo ở Chicago có con 10 và 14 tuổi, cho biết mặc dù ông coi trọng việc giao tiếp, nhưng một số chủ đề rất khó để nói đến. Ông ngần ngại nói với con trai tuổi teen của mình về việc bóc lột tình dục, trong đó người lớn thao túng trẻ vị thành niên, thường là các bé trai, để chia sẻ hình ảnh khiêu dâm nhằm mục đích tống tiền.
Ông nói chuyện cởi mở với con trai về sự đồng thuận tình dục, nhưng một cuộc trò chuyện về việc bóc lột tình dục sẽ là “một lời nhắc nhở rõ ràng rằng con đang bước vào một thời điểm mà con sẽ không còn được bảo vệ khỏi cái ác nữa. Có một cảm giác sâu sắc rằng có những mảnh ghép tuổi thơ của con sẽ không bao giờ quay trở lại,” Blair nói.
Munzer và Schleider đều đồng ý rằng việc cha mẹ đưa ra những quyết định đúng đắn trong bối cảnh kỹ thuật số ngày nay dường như là điều bất khả thi. Đó là lý do tại sao họ tin rằng các cơ quan hoạch định chánh sách nên tập trung nhiều hơn vào việc buộc các công ty truyền thông kỹ thuật số phải chịu trách nhiệm về những tác hại mà chúng gây ra cho trẻ vị thành niên, và bảo đảm trẻ em có quyền tiếp cận với những “không gian thứ ba” an toàn như các hoạt động ngoại khóa và không gian xanh thiên nhiên.
Schleider nói, “Hệ thống được thiết lập để cha mẹ thất bại bất kể họ có làm gì đi nữa. Và khi nói đến hệ thống, tôi muốn nói đến cách các mạng xã hội, ứng dụng và không gian trực tuyến được thiết kế để thu hút sự chú ý,” và, “chứ không phải để bảo vệ sức khỏe của giới trẻ”.
Đối với ông Blair, việc buông bỏ là điều thiếu trách nhiệm. Ông nói rằng nếu so sánh điện thoại thông minh với xe hơi, thì nhiệm vụ của cha mẹ là “làm đai an toàn, ngay cả khi họ cảm thấy vô cùng khó chịu… Tôi hy vọng tất cả các bậc cha mẹ đều có thể thừa nhận điều đó, rằng thật là chán chường khi phải là đai an toàn.”
Hannah Harris Green là nhà báo độc lập và là chuyên viên sản xuất chương trình phát thanh có trụ sở tại thành phố Chicago. Cô chuyên viết về khoa học, chăm sóc sức khỏe và cuộc chiến chống ma túy.
(theguardian.com)










