Ô nhiễm kim loại nặng do khai thác đất hiếm, “quả bom nguyên tử” đối với sông Mekong

Dòng sông dài nhất Đông Nam Á đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng môi sinh chưa từng có do chất thải từ các hoạt động khai thác đất hiếm khoáng sản ở thượng nguồn. Tại nhiều khu vực trên sông Mekong, mức độ nhiễm các kim loại nặng độc hại như thạch tín, thuỷ ngân chì, cao gấp gần 10 lần so với mức an toàn. Không chỉ nguồn sinh kế của hơn 70 triệu người bị đe dọa, những tác động này còn mang tính huỷ hoại đối với môi sinh về lâu dài.


Một mỏ khai thác đất hiếm ở Maung Bawk, Miến Điện. © Stimson/ Google Earth, Maxar.

 

Từ nhiều tháng qua, các hình ảnh về cá biến dạng, vảy đổi màu, có nhiều khối u, màu mắt bất thường,…, được loan truyền rộng rãi tại Thái Lan. Chúng được phát hiện dọc theo sông Kok ở miền bắc Thái Lan, bắt nguồn từ Miến Điện, chảy qua tỉnh Chiang Rai và đổ vào sông Mekong. Nhiều người dân không dám ăn cá sông, ngừng đánh bắt cá trước những thông tin về cá bị nhiễm độc do kim loại nặng được thải ra từ các hoạt động khai khoáng ở thượng nguồn. Tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại vùng Tam giác vàng, nơi các con sông Kok, Sai, Ruak chảy từ Miến Điện vào Thái Lan và đổ vào sông Mekong.

Trên thực tế, theo Bangkok Post tình trạng ô nhiễm kim loại nặng đã được phát hiện vào tháng 08/2024, khi người dân báo cáo về tình trạng nước sông vẩn đục. Tại đập Ban Kwae Wua, trẻ em bị phát ban sau khi chơi đùa trên sông. Tại Huai Chomphu, nông dân nhận thấy cây trồng héo úa dù được tưới nước hàng ngày. Đến đầu năm 2025, các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm đã xác nhận nỗi lo sợ : dòng sông bị ô nhiễm với hàm lượng thạch tín cao, nồng độ kim loại nặng ở mức báo động.

 

Cơ Quan Quản lýThủy Sản Thái Lan, được cho là để trấn an dư luận và tránh tác động đối với thị trường, đã thông báo hồi tháng 06/2025, rằng những con cá bị biến dạng được đánh bắt ở các con sông bị nhiễm ký sinh trùng Digenea và sự biến dạng không phải do kim loại nặng gây ra. Trong khi đó các tổ chức phi chính phủ và các nghiên cứu của Đại học Naresuan ở Thái Lan đã đưa ra bằng chứng về việc mô cá chứa kim loại nặng và các dấu hiệu như u, biến màu… là do nhiễm độc hóa học. Họ kết luận rằng cá bị nhiễm vi khuẩn/ký sinh trùng là hệ quả của việc hệ miễn dịch bị suy yếu do sống trong môi trường nhiễm độc lâu ngày.

Các báo cáo từ cơ Quan Kiểm soát Ô nhiễm Thái Lan (PCD) gần đây cũng đã phải thừa nhận các chỉ số hóa học về thạch tín, đang vượt ngưỡng an toàn. Kết quả xét nghiệm trầm tích, được công bố vào tháng 4/2026 cho thấy mức độ thạch tín đo được ở nhiều khu vực sông Kok, Sai và Ruak, lên đến mức 296 mg/kg, cao gấp 9 lần ngưỡng nguy hiểm (33 mg/kg). Ô nhiễm chì vượt quá mức an toàn cũng được phát hiện tại nhiều khu vực trên sông Kok, cùng với các kim loại nặng khác, bao gồm niken, đồng và crom, thuỷ ngân.

 

Theo Ủy ban Sông Mekong – Mekong River Commission, cơ quan quản lý con sông, nồng độ thạch tín trong trầm tích có thể gây nguy hiểm cho các sinh vật đáy, đặc biệt là ở thượng nguồn sông Kok và sông Mekong. Vào mùa khô, mực nước thấp và lưu lượng giảm, có thể góp phần làm tăng lượng trầm tích tích tụ và nồng độ chất gây ô nhiễm cao hơn.

Trong cuộc hội thảo trực tuyến về Khủng hoảng nhiễm độc tại sông Mekong, hồi tháng 04/2026, phó giáo sư Wan Wiriya, thuộc đại học Chiang Mai Thái Lan, nhận định :  “Mặc dù hiện nay con người không tiếp xúc trực tiếp với trầm tích giống như các sinh vật sống dưới đáy sông, nhưng thạch tín sẽ tích tụ dần trong hệ sinh thái và dần dần đầu độc chuỗi thức ăn, tác động trực tiếp đến con người”.

Dòng sông đã bị đầu độc như thế nào ?

Thanapol Penrat, giáo sư tại Đại học Naresuan của Thái Lan, trả lời AP, nhận định : “Vấn đề là ô nhiễm nguồn nước xuyên biên giới do khai thác khoáng sản đất hiếm và vàng không được kiểm soát và quản lý đúng cách ở Miến Điện. Tôi cũng rất lo ngại vì việc khai thác vẫn tiếp diễn ở Lào, như vậy là có thêm một nguồn phát thải chất ô nhiễm, không chỉ ở Miến Điện mà còn ở Lào và điều đó thực sự ảnh hưởng đến sông Mekong một cách tổng thể.”

Bản đồ do viện nghiên cứu Stimson chỉ ra hơn 2400 mỏ khai thác khoáng sản tại các nước thượng nguồn sông Mekong. © Stimson

 

Ở phía thượng nguồn sông Mekong, miền bắc Thái Lan, báo cáo của Viện nghiên cứu Stimson có trụ sở tại Mỹ, dựa vào các hình ảnh vệ tinh và việc xác nhận các nguồn tin từ thực địa, chỉ ra hơn 2400 địa điểm khai thác khoáng sản, dọc theo 43 con sông. Tại các phụ lưu của sông Mekong, có đến gần 800 địa điểm khai thác, hầu hết không được kiểm soát. Các mỏ này xả trực tiếp xyanua (cyanide), thủy ngân, thạch tín (asen) và kim loại nặng vào nước sông. Các tác giả của báo cáo nêu ra các cơ chế chính đầu độc dòng sông, trong đó có việc khai thác đất hiếm bằng “rửa hóa chất tại chỗ” (in-situ leaching), khai thác vàng và dùng hóa chất (thường là xyanua) để rửa quặng kim loại…

Ông Regan Kwan, một trong những tác giả của báo cáo, giải thích với RFI Tiếng Việt : “Mỗi phương pháp đều có nguy cơ gây tác động môi sinh đáng kể. Với khai thác sa khoáng dọc sông, tiến trình đào bới và khuấy động trầm tích làm giải phóng các kim loại nặng vốn tồn tại tự nhiên trong đất. Khi tiếp xúc với nước và không khí, các chất này có thể hòa tan và làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước, với nồng độ kim loại nặng nhiều nơi vượt tiêu chuẩn của WHO. Phương pháp ngâm chiết (heap leaching) sử dụng axit để tách kim loại trong quặng ngoài trời. Hệ thống này thiếu che chắn và quản lý chặt chẽ, nên dễ gây rò rỉ nước thải độc hại, ảnh hưởng đến động vật hoang dã và có nguy cơ lan rộng khi xảy ra mưa lớn hoặc thiên tai. Cuối cùng, chiết tách tại chỗ (in situ leaching) bơm hóa chất trực tiếp vào lòng đất để hòa tan đất hiếm, đồng thời sử dụng nước sông trong tiến trình khai thác. Sau đó, lượng nước thải chứa kim loại nặng và hóa chất thường được xả ngược trở lại môi trường, gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước trên mặt đất và nước ngầm.”

Bắt nguồn từ Tây Tạng, sông Mekong chảy qua 6 nước rồi đổ ra Biển Đông, là nguồn cung cấp nước cho nông nghiệp, thuỷ điện, giao thông và thuỷ sản, nuôi sống hơn 70 triệu người trong khu vực. Dòng sông từ lâu đã phải chịu ô nhiễm nhựa, đến các đập thủy điện kìm hãm dòng chảy ở thượng nguồn và việc khai thác cát tàn phá bờ sông, chưa kể tình trạng biến đổi khí hậu, hay các loại ô nhiễm khác. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng các hoạt động khai thác đất hiếm không được kiểm soát, có thể gây ra cuộc khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng nhất mà dòng sông từng phải đối mặt.

Quả bom nguyên tử “nổ chậm” ở sông Mekong

Các kim loại nặng như thạch tín hay xyanua không bị phân huỷ theo thời gian. Khi chúng tích tụ, và có thể gây tác động lâu dài ngay cả khi các hoạt đông khai thác đã chấm dứt. Việc tiếp xúc với các kim loại nặng gây ra những hậu quả nguy hiểm đối với sức khoẻ. Ví dụ, thạch tín có thể gây suy tạng. Thủy ngân gây hại cho hệ thần kinh. Chì làm suy giảm nhận thức và cadmium gây hại cho thận.

Ônh Brian Eyler, giám đốc chương trình về Đông Nam Á tại viện nghiên cứu Stimson, cũng là đồng tác giả của báo cáo nói trên, nhận định: “Một số người tại Thái Lan gọi đây là “quả bom nguyên tử” đối với sông Mekong. Tôi từng được hỏi so sánh về mức độ nghiêm trọng của tình trạng hiện nay. Phải nói rằng, ngoài cuộc chiến tranh Việt Nam trong thế kỷ trước, chưa từng có sự kiện nào ảnh hưởng đến nhiều người như thế này.

Hiện áp lực đang đến từ nhiều phía. Nhựt Bổn và Úc đã phát hiện sản phẩm nhiễm độc. Cuối năm ngoái, Nhựt Bổn đã ngừng nhập cảng đậu bắp và đậu xanh từ Chiang Rai ở Thái Lan. Úc cũng tìm thấy nồng độ thạch tín cao trong gạo Thái. Chúng tôi hy vọng áp lực kinh tế này sẽ thúc đẩy sự thay đổi.”

Bàn tay Trung Hoa

Báo cáo được thực hiện ban đầu, nhằm mục đích nâng cao nhận thức về mức độ nguy hiểm của nồng độ các kim loại nặng được phát hiện trước đó, và chủ yếu tập trung theo dõi hai mỏ khai thác. Nhưng qua tiến trình nghiên cứu, nhiều mỏ khai thác mới đã được xây dựng, và chưa từng được thống kê hay đăng ký trước đó, đặc biệt là tại Lào, với 20 mỏ khai thác trái phép. Điều đáng chú ý là nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ của các hoạt động này được thúc đẩy bởi nhu cầu đất hiếm từ Trung Hoa. Viện nghiên cứu Stimson đã đăng tải danh sách các công ty đứng đằng sau các hoạt động này, hầu hết có chủ là người Trung hoặc có liên hệ với Trung Hoa.

Chuyên viên nghiên cứu Regan Kwan khẳng định rằng sự hiện diện của bàn tay Trung Hoa là không thể chối cãi. Các doanh nghiệp nhà nước, trên thực tế, không trực tiếp tham gia khai thác tại khu vực này, nhưng có nhiều công ty con hoạt động tại các khâu khác nhau. Ông khẳng định : “Có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng các doanh nghiệp này kiểm soát chuỗi cung ứng từ khai thác đến tinh luyện và sản xuất nam châm. Chúng tôi có bằng chứng về các công ty Trung Hoa tham gia khai thác tại Miến Điện và Lào, sau đó xuất cảng về Trung Hoa để đưa vào các lò luyện. Tại lò luyện, khoáng sản từ nhiều nguồn bị trộn lẫn, khiến việc truy xuất nguồn gốc trở nên bất khả thi. Sự hiện diện và can thiệp của Trung Hoa trong toàn bộ chuỗi cung ứng là điều không thể tranh cãi.”

Về phần mình, ông Brian Eyler, với hơn 10 năm kinh nghiệm nghiên cứu tại khu vực, nói rõ là viện nghiên cứu đã thu thập nhiều báo cáo, lời chứng từ các công nhân, cũng như người dân ở Miến Điện, ghi nhận sự hiện diện của người Trung làm việc tại các mỏ này, chủ yếu giữ chức quản lý và tư vấn ở cấp độ kỹ thuật, cũng như tham gia vào toàn bộ chuỗi cung ứng.

Cho đến nay, các biện pháp ứng phó với tình trạng này vẫn còn hạn chế, cuộc nội chiến ở Miến Điện khiến vấn đề này khó có thể giải quyết, chưa kể nạn buôn lậu. Điều này cũng dấy lên lo ngại đối với các nước ở hạ lưu sông Mekong là Việt Nam và Cam Bốt. Giám đốc của chương trình Đông Nam Á tại viện nghiên cứu Stimson, ông Brian Eyler nhận định : “Hiện vẫn chưa có báo cáo nào về tình trạng nhiễm độc tại hạ nguồn sông Mekong, hoặc chưa có đủ xét nghiệm. Đó là nơi cung cấp thực phẩm cho toàn thế giới, và dĩ nhiên không người tiêu dùng nào muốn sử dụng sản phẩm có nguy cơ nhiễm độc.

Hiện Việt Nam đang có kế hoạch mở lại các mỏ đất hiếm. Chúng tôi hy vọng chính phủ và các đơn vị vận hành mỏ sẽ áp dụng các biện pháp bảo vệ thích hợp, rút kinh nghiệm từ những bài học đau xót đang xảy ra trên sông Mekong. Việt Nam là một “ngôi sao công nghệ” đang lên, chúng tôi hy vọng các hoạt động công nghiệp hóa của Việt Nam sẽ không làm trầm trọng thêm vấn đề này.”

Nhu cầu đất hiếm tiếp tục đà tăng

Các chuyên gia cũng cảnh báo rằng các hoạt động khai thác đất hiếm sẽ vẫn tiếp tục lan rộng, và không được kiểm soát trước nhu cầu toàn cầu ngày càng gia tăng. Đất hiếm được sử dụng chủ yếu trong việc sản xuất các thiết bị điện tử, hay trong pin điện, phục vụ chuyển đổi xanh, cũng như trong các trung tâm dữ liệu trước sự bùng nổ của AI, cũng như trong ngành công nghiệp quốc phòng. Theo chính phủ Mỹ, những khoáng sản này được sử dụng trong các tiêm kích như F-35, tiềm thủy đỉnh, hỏa tiễn Tomahawk, hệ thống radar và nhu cầu về nguồn cung cấp ngày càng tăng khi Mỹ tăng cường sản xuất và mở rộng kho dự trữ quân sự đã bị hao hụt do các cuộc chiến ở Ba Tư và ở Ô Khắc Lan.

Các khoáng sản, nguyên tố đất hiếm đang rơi vào xòng xoáy địa chính trị. Trung Hoa kiểm soát 90 % thị trường đất hiếm toàn cầu, đã ra lệnh cấm xuất cảng đất hiếm. Hoa Thịnh Đốn đã công bố các khoản đầu tư hàng tỷ đô-la vào lĩnh vực này, nhằm đa dạng nguồn cung cấp, giảm phụ thuộc vào Trung Hoa. Đây cũng sẽ là một trong những chủ đề được dự trù đem ra thảo luận trong thượng đỉnh giữa lãnh đạo Hoa Kỳ và Trung Hoa sắp tới.

 

(Theo RFI)

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận