Trung Quốc đang quá tự tin trong quan hệ với Mỹ?

Nguồn: Thomas J. Christensen, “Will China Overplay Its Hand?,” Foreign Affairs, 06/03/2026

 

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng (nghiencuuquocte.org)

(Huy Le phụ đính)

 

Sự tự tin của Bắc Kinh có thể làm xáo trộn thượng đỉnh Trump-Tập như thế nào?

 

Cuối tháng này, Tổng thống Mỹ Donald Trump dự kiến sẽ đến thăm Trung Quốc để tham dự một hội nghị thượng đỉnh quan trọng với nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình, cuộc gặp đầu tiên trong số có thể lên tới bốn cuộc gặp giữa hai nhà lãnh đạo vào năm 2026. Hội nghị thượng đỉnh kéo dài ba ngày được lên kế hoạch ngay sau các cuộc thảo luận giữa hai nhà lãnh đạo vào tháng 10/2025 bên lề Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á Châu -Thái Bình Dương (APEC) tại Busan, Nam Hàn, nơi họ đạt được một thỏa thuận đình chiến mong manh nhằm xoa dịu căng thẳng kinh tế ngày càng leo thang trong quan hệ Mỹ-Trung. Cụ thể, Trump và Tập đã đồng ý từ bỏ, trong vòng một năm, nhiều biện pháp hà khắc mà hai nước đã áp đặt hoặc đe dọa áp đặt lên nhau trong những tháng trước đó. Mỹ lùi bước trước lời đe dọa đánh thuế cao ngất ngưởng và đình chỉ việc mở rộng đáng kể số lượng các công ty Trung Quốc trong Danh sách Thực thể của Bộ Thương mại Mỹ, vốn giới hạn quyền tiếp cận của họ với các doanh nghiệp Mỹ vì lý do an ninh quốc gia hoặc chính sách đối ngoại. Về phần mình, Trung Quốc đã đảo ngược việc từ chối mua nông sản của Mỹ và dỡ bỏ các hạn chế sâu rộng đối với xuất cảng khoáng sản thiết yếu mà Mỹ cùng nhiều nền kinh tế công nghiệp khác đang phụ thuộc vào. Nói ngắn gọn, thỏa thuận đưa hai nước trở lại khá gần với điểm xuất phát trước khi xung đột kinh tế bắt đầu vào đầu năm 2025.

 

Các quốc gia khác và thị trường chứng khoán toàn cầu hoan nghênh kết quả này vì nếu không, sự leo thang thương chiến sẽ tồi tệ hơn nhiều. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã bỏ ngỏ nhiều vấn đề kinh tế cực kỳ quan trọng – bao gồm mức thuế trung chuyển mà Mỹ đe dọa áp đặt lên các quốc gia nhập cảng sản phẩm trung gian từ Trung Quốc để xử dụng trong các sản phẩm hoàn chỉnh mà họ xuất cảng sang Mỹ. Cũng không có thỏa thuận dài hạn nào liên quan đến các hạn chế xuất cảng các nguyên tố đất hiếm từ Trung Quốc hoặc chất bán dẫn cao cấp từ Mỹ. Hơn nữa, độ bền vững của thỏa thuận đình chiến này bị đe dọa bởi những rạn nứt dai dẳng trong các lĩnh vực cạnh tranh khác giữa Mỹ và Trung Quốc, bao gồm xu hướng của mỗi nước trong việc xử dụng các lệnh trừng phạt kinh tế như một phương tiện cưỡng ép đối với các vấn đề phi kinh tế, cùng với phản ứng gay gắt mỗi khi các hình phạt như vậy được nhắm vào họ.

 

Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhứt sẽ định hình các cuộc gặp Trump-Tập sắp tới sẽ là nhận thức của Bắc Kinh về thành công rõ ràng của chính họ trong năm 2025 khi đáp trả các mối đe dọa của Mỹ bằng những đòn phản công kiên quyết. Tiến trình leo thang và xuống thang dẫn đến thỏa thuận đình chiến ở Busan đã củng cố niềm tin của giới tinh hoa Trung Quốc về sức mạnh và đòn bẩy ngày càng tăng của đất nước họ. Nhiều chuyên gia Trung Quốc tin rằng Bắc Kinh, không giống như các thủ đô khác phải chịu sự đe dọa của Trump, đã dồn được Hoa Thịnh Đốn vào chân tường, và kết quả này báo hiệu sự vươn lên của Trung Quốc như một cường quốc toàn cầu ngang hàng với Mỹ. Học giả quan hệ quốc tế nổi tiếng của Trung Quốc, Kim Xán Vinh, tuyên bố rằng kết quả của thượng đỉnh Busan chứng minh rằng Trung Quốc và Mỹ đã trở thành “các cường quốc ngang hàng.” Suy cho cùng, ngay từ trước cuộc gặp, Trump đã củng cố sự tự tin của Bắc Kinh khi gọi các cuộc đàm phán sắp tới trên mạng xã hội là cuộc họp của “G2” – một thuật ngữ mà giới chức Mỹ từ lâu đã tránh xử dụng vì họ không muốn đối xử với Trung Quốc như một cường quốc ngang hàng, và vì các đồng minh cũng như đối tác của Mỹ lo sợ một khuôn khổ như vậy sẽ cho phép Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến lợi ích của các quốc gia đó mà không có mặt họ. Chuyên viên về khoa học chính trị Trịnh Vĩnh Niên viết rằng việc Trump xử dụng ngôn từ G2 ngay trước thềm hội nghị đã “ngầm thừa nhận vị thế toàn cầu then chốt của Trung Quốc” – nói cách khác, là sự xuất hiện của nước này như một quốc gia ngang hàng với Mỹ. Một số chuyên gia Mỹ cũng đã củng cố nhận thức này. Rush Doshi, cựu quan chức chánh quyền Biden, gọi những gì diễn ra ở Busan là “minh chứng rõ ràng rằng Trung Quốc giờ đây có thể đối mặt với nước Mỹ như một đối thủ thực sự ngang tầm.”

 

Những kết luận này đã bị thổi phồng. Không nghi ngờ gì, Trung Quốc là một cường quốc và từ lâu họ đã có khả năng gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho Mỹ và các đối tác của nước này, cả về quân sự lẫn kinh tế. Đòn bẩy này chỉ đang tăng lên khi sức mạnh quân sự, kinh tế, và kỹ nghệ của Trung Quốc tiếp tục phát triển – một quỹ đạo cần được xem xét nghiêm túc. Nhưng Trung Quốc vẫn chưa phải là đối thủ toàn cầu ngang tầm với Mỹ. Việc các nỗ lực của Mỹ nhằm ép buộc Trung Quốc vào đầu năm 2025 được lên kế hoạch kém cỏi và do đó thất bại trong việc tạo ra kết quả tích cực không có nghĩa là Trung Quốc có thể sánh ngang với Mỹ về sức mạnh quốc gia toàn diện. Bất kỳ nhận thức nào của Trung Quốc đi ngược lại điều này đều có thể dẫn đến việc Bắc Kinh áp dụng các chính sách quyết đoán và có khả năng gây mất ổn định ở Á châu.

 

VẪN Ở THẾ THƯỢNG PHONG

Mỹ có nhiều lợi thế đa dạng so với Trung Quốc. Đáng chú ý nhứt trong số đó là một mạng lưới độc nhứt gồm hơn 60 đồng minh và đối tác an ninh của Hoa Thịnh Đốn, bao gồm gần như tất cả các nền kinh tế tân tiến trên thế giới. Trong khi đó, các đối tác an ninh của Trung Quốc chủ yếu là các quốc gia bất hảo. Nga đang bị kìm hãm bởi cuộc chiến tiêu hao phần lớn không thành công ở Ukraine; Iran đã bị suy yếu nghiêm trọng do bất ổn trong nước, các lệnh trừng phạt kinh tế, và các cuộc tấn công quân sự của Mỹ và Israel; và Triều Tiên tuy khó đoán nhưng kiên quyết, đang gây ra nhiều rắc rối cho chính sách đối ngoại của Bắc Kinh – cụ thể là cho quan hệ của nước này với Nhựt Bổn và Nam Hàn – hơn là mang lại giải pháp cho các thách thức sách lược của Trung Quốc.

Trung Quốc đã hiện đại hóa quân đội và phát triển các năng lực quân sự đáng chú ý mà họ có thể khai triển trong một cuộc xung đột tiềm tàng ở Tây Thái Bình Dương, nhưng họ vẫn chỉ ngang tầm với Mỹ trong các đánh giá về xung đột tiềm tàng ở các khu vực lân cận thuộc Á Châu – Thái Bình Dương. Ví dụ, các báo cáo về các cuộc tập trận mô phỏng trong đó lực lượng Trung Quốc đánh bại quân đội Mỹ luôn dựa trên các kịch bản gần Đài Loan, ngay trước cửa ngõ của Trung Quốc, chứ không phải Puerto Rico, Greenland, hay Trung Đông. Bất chấp tiến trình hiện đại hóa quân sự ấn tượng, Trung Quốc thiếu năng lực khai triển sức mạnh thông thường cần thiết để thách thức bá quyền của Mỹ hoặc đồng minh ở bất kỳ đâu ngoài khu vực lân cận trực tiếp với họ.

 

Về mặt kinh tế cũng vậy, Mỹ có nhiều đòn bẩy đối với Trung Quốc hơn là chiều ngược lại. Trung Quốc độc quyền về đất hiếm và dược chất (API), và điều này gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho Mỹ. Nhưng giờ đây, khi thực tế này đã thu hút sự chú ý của mọi người, các cơ quan hoạch định chính sách ở nhiều quốc gia đã hiểu ra rằng họ phải hành động để bảo đảm rằng độc quyền chuỗi cung ứng sẽ không phải là tài sản vĩnh viễn của Bắc Kinh. Hơn nữa, như chuyên gia về khoa học chính trị Victor Cha mới đây đã lưu ý trên tờ Foreign Affairs, nền kinh tế Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào các nguyên liệu công nghiệp đầu vào từ Mỹ cũng như các đồng minh và đối tác trong khu vực. Bất chấp những nỗ lực đáng kể để đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, Bắc Kinh vẫn phụ thuộc vào nhập cảng bằng đường biển từ Trung Đông, Phi Châu, hoặc Mỹ Latin cho phần lớn nhu cầu dầu mỏ của mình. Và vì cầu trong nước đối với hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc vẫn còn yếu, nên khả năng tiếp cận các thị trường xuất cảng của nước này ngày càng trở nên quan trọng để bảo đảm tăng trưởng liên tục. Thặng dư thương mại của Trung Quốc đã tăng vọt lên mức lịch sử đối với bất kỳ quốc gia nào, đạt gần 1.000 tỷ USD vào năm 2024 và thậm chí vượt qua con số đó vào năm 2025. Tôi nghi ngờ việc các thị trường nước ngoài sẽ tiếp tục hấp thụ các sản phẩm của Trung Quốc với tốc độ này, nhưng cho đến khi Bắc Kinh có thể xây dựng nền tảng kinh tế của mình vững chắc hơn nhờ tiêu dùng nội địa, họ sẽ vẫn phụ thuộc vào thị trường nước ngoài cho tăng trưởng trong tương lai.

 

Tiếp đến là một thứ tương đương với võ khí hạt nhân trong đòn bẩy kinh tế của Mỹ: sự phụ thuộc của các tổ chức tài chánh nước ngoài vào việc tiếp cận đồng đô la. Trong trường hợp khó xảy ra nhưng vẫn có thể xảy ra, là Hoa Thịnh Đốn áp dụng các lệnh trừng phạt tài chánh sâu rộng đối với các ngân hàng nhà nước lớn và các công ty Trung Quốc, các tổ chức này sẽ nhận ra rất khó để hoạt động trên phạm vi quốc tế. Bất chấp những nỗ lực của Trung Quốc nhằm phòng bị bằng cách quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, đô-la Mỹ sẽ vẫn là đồng tiền dự trữ của thế giới rất lâu sau khi sự kìm kẹp của Trung Quốc đối với đất hiếm và dược chất – võ khí kinh tế chính của nước này – bị phá vỡ. Giống như hầu hết các quốc gia, Trung Quốc vẫn phụ thuộc rất nhiều vào tiềm năng thực hiện các giao dịch tài chánh bằng đô-la Mỹ và có lẽ sẽ tiếp tục làm như vậy trong nhiều năm tới.

 

TRỞ VỀ TƯƠNG LAI?

Dù vậy, những điểm yếu còn lại của Trung Quốc không nên làm người Mỹ tự mãn. Bắc Kinh có nhiều cách để phản kháng lại một nước Mỹ hùng mạnh hơn. Hơn nữa, như học giả quan hệ quốc tế Robert Jervis đã lập luận, nhận thức ít nhứt cũng quan trọng như thực tế trong chính trị toàn cầu. Nhận thức của nhiều thành viên trong tầng lớp tinh hoa Trung Quốc rằng Bắc Kinh đã giành chiến thắng trong tiến trình leo thang và xuống thang sau đó trong cuộc xung đột kinh tế với Hoa Thịnh Đốn vào năm 2025 rất có thể sẽ mang lại những hậu quả trong thế giới thực.

Lần cuối cùng Trung Quốc trở nên quá tự tin về sức mạnh đang lên của mình là sau cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008, khi nền kinh tế nước này ít bị thiệt hại hơn và phục hồi nhanh hơn so với Mỹ cùng các đồng minh và đối tác. Niềm tin thái quá của Bắc Kinh vào sức mạnh quốc gia tương đối của họ đã tạo ra một xu hướng tiêu cực trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Như tôi đã chỉ ra trong một bài viết năm 2011 cho tờ Foreign Affairs, việc Bắc Kinh áp dụng tư thế chính sách đối ngoại kiêu ngạo và bất hợp tác vào năm 2010 đối với Ấn Độ, Nhựt  Bổn , Nam Hàn , và các thành viên của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á đã phá hủy thiện chí ngoại giao mà họ dày công bồi đắp trong khu vực kể từ giữa những năm 1990. Đến cuối năm 2010, Trung Quốc đã thành công trong việc tự cô lập mình với hầu hết các nước láng giềng ngoại trừ Nga.

 

Chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện nay có thể đang lặp lại xu hướng tiêu cực của sự quá tự tin và quyết đoán này. Bắc Kinh đã áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế lên Nhựt Bổn sau lời gợi ý công khai của Thủ tướng Sanae Takaichi rằng Nhựt Bổn có thể đóng một vai trò nào đó trong một cuộc xung đột tiềm tàng ở Eo biển Đài Loan (dù các lệnh trừng phạt chỉ làm tăng thêm sự ủng hộ ở trong nước dành cho Takaichi). Sau khi Trump công bố bán gói võ khí trị giá 11 tỷ USD của Mỹ cho Đài Loan vào cuối năm 2025, quân đội Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tập trận quy mô lớn và bố trí lực lượng gần đảo chính của Đài Loan hơn so với trước đây. Trung Quốc cũng tăng cường sự hiện diện của quân đội và lực lượng bán quân sự ở các khu vực tranh chấp trên Biển Đông, và còn đang xây dựng các cấu trúc vật lý bất chấp sự phản đối của Hán Thành (Seoul) bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Nam Hàn ở Biển Hoàng Hải, nơi ngăn cách hai nước. Tóm lại, năm 2026 đang bắt đầu trông rất giống năm 2010.

 

Những nguyên nhân tiềm tàng cho rạn nứt sâu hơn trong quan hệ Mỹ-Trung cũng tồn tại ở Âu Châu, Trung Đông, và Mỹ Latinh. Có thể đoán trước một Bắc Kinh tự tin sẽ phản ứng mạnh mẽ trước bất kỳ biện pháp trừng phạt nào của Mỹ nhắm vào Trung Quốc do những khác biệt của họ ở các khu vực đó, lấy cảm hứng từ những hậu quả hạn chế mà họ phải đối mặt sau những hành động leo thang tương tự trong những tháng trước thỏa thuận đình chiến ở Busan. Ở Âu Châu, căng thẳng gia tăng có thể xuất hiện trong bối cảnh cuộc chiến ở Ukraine. Trump có thể sẽ thất vọng với thái độ chần chừ đàm phán hiệp ước hòa bình một cách thiện chí của Tổng thống Nga Vladimir Putin nhằm chấm dứt chiến tranh. Nếu Trump muốn gia tăng áp lực kinh tế hiện tại lên Moscow, việc đe dọa các lệnh trừng phạt thứ cấp đối với Trung Quốc – nước hỗ trợ kinh tế lớn nhứt của Nga cho đến nay – sẽ là một hướng đi hợp lý. Và đó cũng là con đường mà Trump đã thực hiện với Ấn Độ để đáp trả việc nước này mua dầu của Nga trong chiến tranh.

Những mối nguy tương tự cũng hiện diện ở Iran, quốc gia có đối tác kinh tế lớn nhứt tính đến nay là Trung Quốc. Trước khi các cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran bắt đầu vào tuần trước, Trung Quốc vẫn đang mua phần lớn lượng dầu xuất cảng của Iran, dù là thông qua các tuyến đường qua các nước thứ ba như Mã Lai Á, làm giảm khả năng bị Mỹ trừng phạt. Bắc Kinh không muốn chứng kiến sự thay đổi chế độ ở Tehran, đặc biệt là dưới áp lực của nước ngoài, và do đó có thể sẽ cố gắng hết sức để giúp củng cố bất kỳ lãnh đạo chống Mỹ nào nổi lên ở nước này sau cái chết của Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei. Cũng có khả năng Trung Quốc sẽ cố gắng cung cấp cho Iran các hàng hóa liên quan đến quân sự, để giúp họ xây dựng lại một số năng lực quân sự thông thường, đồng thời cố vấn cho Tehran về cách tốt nhứt để giám sát xã hội và dập tắt các cuộc biểu tình chống chế độ. Giờ đây, khi Trump đã cam kết quân sự cho một sự thay đổi chế độ nào đó ở Iran, ông rất có thể sẽ xử dụng mối đe dọa quan thuế hoặc các lệnh trừng phạt kinh tế khác nhắm vào Trung Quốc vì sự ủng hộ của nước này đối với chế độ Iran. Một Tập Cận Bình không hề nao núng có thể sẽ đáp trả các mối đe dọa kinh tế của Mỹ bằng các biện pháp leo thang của riêng mình, nhiều khả năng bao gồm các hạn chế xuất cảng đất hiếm và lệnh cấm nhập cảng nông sản.

 

Ở Mỹ Latinh, Bắc Kinh hẳn là không hài lòng với việc quân đội Mỹ lật đổ Nicolás Maduro khỏi quyền lực ở Venezuela, đặc biệt là vì sự kiện này diễn ra chỉ một ngày sau khi một phái đoàn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đến thăm Maduro tại Caracas. Trung Quốc có quan hệ kinh tế và ngoại giao chặt chẽ với Venezuela dưới thời Maduro, đổ nhiều khoản đầu tư lớn vào lĩnh vực dầu mỏ của nước này. Tập có thể phần nào yên tâm khi chánh quyền Trump chọn không kích động một cuộc cách mạng ủng hộ dân chủ ở Venezuela. Nhưng một vấn đề tiềm ẩn còn lại đối với Bắc Kinh là ý tưởng cho rằng hành  động táo bạo của Hoa Thịnh Đốn ở Caracas có thể là một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn nhằm giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc ở Mỹ Latinh, như Sách lược An ninh Quốc gia năm 2025 của Trump đã gợi ý. Ngay từ cuối tháng Hai, Bộ Ngoại giao Mỹ đã áp đặt lệnh cấm đi lại đối với các quan chức Chile đang soạn thảo thỏa thuận xây dựng cáp viễn thông ngầm dưới biển giữa Chile và Hong Kong. Những hành động như vậy, nếu tiếp diễn, sẽ gây ra rạn nứt lớn hơn với Bắc Kinh, vốn là bên có lợi ích kinh tế khổng lồ trên khắp Nam Mỹ. Trong 25 năm qua, Trung Quốc đã thay thế Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn nhứt của khu vực và thực hiện các khoản đầu tư hạ tầng cơ sở khổng lồ tại đây, bao gồm việc phát triển một cảng lớn ở Peru nhằm tạo thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa sang Á Châu.

Dù một phán quyết gần đây của Tối cao Pháp viện Mỹ đã ngăn cản Trump phê chuẩn một số mức thuế trừng phạt nhứt định theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế, ông vẫn nắm giữ nhiều công cụ đe dọa khác trong tay – đặc biệt là khi nói đến Trung Quốc, quốc gia mà chính phủ Mỹ cho là có tội do một loạt các vi phạm về chuẩn mực thương mại công bằng và bảo vệ sở hữu trí tuệ. Chánh quyền Mỹ vẫn có thể tăng thuế đối với một lượng lớn hàng nhập cảng của Trung Quốc theo các ủy quyền hiện hành của Quốc hội, chẳng hạn như Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, cho phép Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ áp đặt các hình phạt đối với các quốc gia mà họ cho là đã vi phạm các hiệp định thương mại, mà không vướng phải rủi ro bị các tòa án Mỹ cản trở.

 

CÓ GÌ SAI KHI TA TỰ TIN?

Những áp lực bên ngoài lên thỏa thuận đình chiến năm 2025 không phải là mối nguy duy nhứt đối với độ bền vững của nó; chúng chỉ bổ túc thêm vào những điểm yếu của chính bản thân thỏa thuận này. Không có tuyên bố chính thức nào về các cuộc họp tại Busan thừa nhận vấn đề hóc búa về mức thuế trung chuyển mà Hoa Thịnh Đốn đã đe dọa áp đặt lên các nước thứ ba nhập cảng hàng hóa trung gian của Trung Quốc để xử dụng trong các sản phẩm hoàn chỉnh xuất cảng sang Mỹ. Chẳng hạn, Mỹ đã gây áp lực kinh tế theo hướng này lên Mexico, sau đó Mexico đành đánh thuế 50% đối với hàng nhập cảng từ Trung Quốc vào đầu tháng Một để tránh mức thuế cao hơn của Mỹ. Vài tuần sau, Trump tiếp tục đưa ra những lời đe dọa ép buộc tương tự đối với Canada sau khi nước này đàm phán một thỏa thuận thương mại với Bắc Kinh. Nếu những mối đe dọa đó tiếp diễn, một Trung Quốc tự tin hơn có thể trả đũa các quốc gia đã khuất phục trước áp lực của Mỹ, hoặc nhắm vào chính nước Mỹ. Những biện pháp phản pháo này – mà khả năng xảy ra của chúng chưa được thỏa thuận đình chiến Busan tính đến – có thể dễ dàng thổi bùng lại những căng thẳng kinh tế mà thỏa thuận đình chiến này đã tạm thời dập tắt.

 

Các vấn đề cũng có thể phát sinh xoay quanh đất hiếm và fentanyl. Dù Bắc Kinh đã đồng ý nối lại xuất cảng đất hiếm và thắt chặt các hạn chế đối với xuất cảng tiền chất fentanyl như một phần của thỏa thuận đình chiến ở Busan, hai nước đã không chỉ định mốc thời gian chính xác hoặc các tiêu chí rõ ràng cho tiến trình này. Vì thế, chánh quyền Trump có thể thất vọng trước dòng chảy nhỏ giọt của đất hiếm, hoặc dòng chảy ồ ạt của tiền chất fentanyl từ Trung Quốc, theo đó kích hoạt việc khôi phục mức thuế cao hơn của Mỹ đối với hàng nhập cảng từ Trung Quốc.

Về phần mình, Bắc Kinh có thể thất vọng vì Hoa Thịnh Đốn không sẵn lòng bán cho Trung Quốc nhiều chất bán dẫn cao cấp và thiết bị sản xuất chất bán dẫn hơn. Chánh quyền Trump có thể đã kích thích sự thèm muốn của một Trung Quốc quá tự tin bằng cách xử dụng chất bán dẫn làm con bài mặc cả trong các cuộc đàm phán thương mại trước đây. Hồi đầu năm 2025, chánh quyền Trump đã hạn chế xuất cảng sang Trung Quốc chip H20 của Nvidia, vốn được công ty này thiết kế đặc biệt dành riêng cho thị trường Trung Quốc nhằm tuân thủ các lệnh hạn chế an ninh quốc gia trước đó đối với các kỹ nghệ bán dẫn cao cấp hơn do chánh quyền Biden ban hành – chỉ để rồi đảo ngược các biện pháp kiểm soát đó vào cuối năm 2025, nhằm đổi lấy cam kết của Bắc Kinh về việc tăng xuất cảng nam châm đất hiếm sang Mỹ. Chánh quyền Trump do đó cũng làm mờ đi ranh giới giữa các lệnh cấm xuất cảng liên quan đến an ninh và các công cụ kinh tế để thiết lập đòn bẩy trong các cuộc đàm phán thương mại như quan thuế. Ranh giới này thậm chí còn trở nên mơ hồ hơn khi, vào tháng 12/2025, họ đã đồng ý bán một số lượng hạn chế các chip H200 tân tiến hơn nhiều cho Trung Quốc. Nếu Hoa Thịnh Đốn dập tắt kỳ vọng của Bắc Kinh về nhiều nhượng bộ trong lãnh vực kỹ nghệ hơn trong các cuộc đàm phán trong tương lai, Trung Quốc có thể sẽ ít sẵn lòng thực hiện cam kết một cách trung thực hoặc gia hạn các cam kết về đất hiếm và fentanyl mà họ đã đưa ra ở Busan.

 

Cuối cùng, cuộc gặp ở Busan đã không giải quyết được những khác biệt kéo dài giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn về vấn đề Đài Loan. Trung Quốc đã nói rõ rằng họ muốn thảo luận về Đài Loan trong hội nghị thượng đỉnh sắp tới. Theo bản tóm tắt chính thức của Trung Quốc về cuộc điện đàm ngày 04/02 giữa Trump và Tập, nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh rằng Đài Loan là “vấn đề quan trọng nhứt trong quan hệ Trung-Mỹ.” Tập có thể thúc đẩy Trump sửa đổi cách diễn đạt chính sách chính thức của Mỹ về quan hệ giữa hai bờ eo biển theo cách có thể làm suy yếu tinh thần của Đài Loan, và ông chắc chắn sẽ thúc giục Trump hạn chế bán võ khí và các hình thức hợp tác an ninh khác của Mỹ với hòn đảo này. Nhưng khả năng có một cam kết bán võ khí mới, quy mô lớn của Mỹ cho Đài Loan là rất cao trong năm 2026.

Bên cạnh các nguyên nhân tiềm tàng khác gây căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đã nêu ở trên, quyết định bán võ khí hoặc hợp tác sâu rộng hơn của Mỹ trong việc củng cố năng lực sẵn sàng phòng thủ của Đài Loan có thể cung cấp thêm một động lực nữa để Bắc Kinh hạn chế xuất cảng đất hiếm và giảm hợp tác thực thi pháp luật chống ma túy. Những gì hai bên đạt được trong năm 2025 là một bước quan trọng trong việc tái thiết quan hệ Mỹ-Trung, nhưng những gì bị bỏ ngỏ chưa giải quyết có thể làm trật bánh những thành quả của thỏa thuận Busan và gây leo thang căng thẳng song phương.

 

Thomas J. Christensen là Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Trường Quan hệ Quốc tế và Các vấn đề Công thuộc Đại học Columbia và là Giám đốc tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Sách lược. Từ năm 2006 đến năm 2008, ông giữ chức Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các Vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương.

 

 

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận