SONG NGHĨ LẠI TRẦN AI ĐẾCH CHỖ!

Từ FB: Phạm Hiền Mây

******

I/ KHOẢNG TRỜI ĐẤT CỔ KIM KIM CỔ / MẢNH HÌNH HÀI KHÔNG CÓ CÓ KHÔNG

Sinh năm một ngàn tám trăm lẻ tám và mất năm một ngàn tám trăm năm mươi lăm, chỉ cùng cõi dương thế có bốn mươi bảy năm, mà Cao Bá Quát đã để lại một gia tài sáng tác đồ sộ lên tới gần một ngàn bốn trăm tác phẩm, viết bởi cả chữ Hán lẫn chữ Nôm.

Nhiều bài rất hay, tỉ như bài Uống Rượu Tiêu Sầu (Vịnh Nhàn) dưới đây:

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy

Cảnh phù du trông thấy đã nực cười

Thôi công đâu chuốc lấy sự đời

Tiêu khiển một vài chung lếu láo

Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu

Trầm tư bách kế bất như nhàn

Dưới thiều quang thấp thoáng bóng Nam san

Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ

Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ

Mảnh hình hài không có, có không

Lọ là thiên tứ, vạn chung

Ông tài hoa, giỏi kiếm giỏi cung, giỏi văn giỏi chữ nhưng không gặp thời, lận đận. Thi cử thì năm lần bảy lượt đều hỏng. Làm được chức quan nhỏ trong bộ Lễ, phạm luật nên tù đày, bị bắt đi phục dịch, mất cả một thời gian dài, mất luôn cả chức tước, danh vị.

Khi nạn châu chấu làm mất mùa màng, người dân lâm vào cảnh cùng khổ, Cao Bá Quát trở thành quân sư, người vận động các sĩ phu yêu nước, lập thành quân khởi nghĩa Mỹ Lương, chống lại triều đình nhà Nguyễn. Bị tố giác, và cả yếu thế nên nghĩa quân liên tiếp thất bại, Cao Bá Quát bị tử thương tại trận. Vua Tự Đức cho lính cắt đầu Quát và mang đi bêu riếu khắp các tỉnh bắc kỳ. Triều đình ra lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao.

******

II/ TÀI TỬ ĐA CÙNG PHÚ

  1. Song Nghĩ Lại Trần Ai Đếch Chỗ

Số lượng thơ viết bằng chữ Nôm của Cao Bá Quát, do bị triều đình lệnh phải đốt sách, cấm tàng trữ và lưu hành, nên cho đến nay, tìm lại được, chỉ có khoảng gần ba mươi bài. Trong đó, Tài Tử Đa Cùng Phú là một sáng tác, được xem vào hàng tuyệt kỹ:

Có một người

Khổ dạng trâm anh

Nết na chương phủ.

Hơi miệng sữa tuổi còn giọt máu, nét hào hoa chừng ná Tân, Dương

Chòm tóc xanh vừa chấm ngang vai, lời khí khái hẹn hò Y, Phó.

Nghiêng gợn sóng vẽ vời điển tịch, nét nhạn điểm lăn tăn

Bút vén mây dìu dặt văn chương, vòng thuyền khuyên lỗ chỗ.

Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan, Khổng, chí xông pha nào quản chông gai

Cựa đuôi kình toan vượt bể Trình, Chu, tài bay nhảy ngại gì lao khổ.

Lắc bầu rượu dốc nghiêng non nước lại, chén tiếu đàm mời mọc Trích Tiên

Hóng túi thơ nong hết gió trăng vào, cơn xướng họa thì thầm Lão Đỗ.

Tươi nét mặt thư sinh lồ lộ, bưng mặt trần toan đạp cửa phù đồ

Rửa buồng gan du tử nhơn nhơn, giương tay Tạo, rắp xoay cơn khí số.

Tưởng đến khi vinh hiển coi thường

Song nghĩ lại trần ai đếch chỗ.

Lều nho nhỏ kéo tấm tranh lướp tướp, ngày thê lương hạt nặng giọt mưa sa

Đèn cỏn con co chiếc chiếu loi thoi, đêm tịch mịch soi chung vừng trăng tỏ.

Áo Trọng Do bạc phếch, giãi xuân thu cho đượm sắc cần lao

Cơm Phiếu Mẫu hẩm sì, đòi tuế nguyệt phải ngậm mùi tân khổ.

Gió trăng rơi rụng, để cái quyên gầy

Sương tuyết hắt hiu, làm con nhạn võ.

Túi thanh bạch ngược xuôi miền khách địa, trăm nghìn đường chỉ nhện dệt thưa mau

Đèn toan hàn thức nhắp mái nam song, dăm ba ngọn lửa huỳnh khêu nho nhỏ.

Miệng châu quế rì rầm học vấn, chị Chú Tô cẳn nhẳn chỉ hiểm nghèo

Vai tân sài đủng đỉnh ngâm nga, vợ anh Mãi băn khoăn từng kể khó.

Đói rau rừng, thấy thóc Chu mà trả, đá Thú Dương chơm chởm, xanh mắt Di nằm tót gáy o o

Khát nước sông, trông dòng đục không vơ, phao Vị Thủy lênh đênh, bạc đầu Lã ngồi dai ho lụ khụ.

Trông ra nhấp nhố sóng nhân tình

Ngoảnh lại vật vờ mây thế cố

Ngán nhẽ kẻ tham bề khóa lợi, mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn

Quản bao người mang cái giàm danh, áo giới lân trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ.

Khéo ứng thù những đám quan trên

Xin bái ngảnh cùng anh phường phố.

Khét mùi thế vị chẳng thà không

Thơm nức phương danh nên mới khổ.

Tình uốn éo muốn vạch trời lên hỏi, nào kiếp Chử Đồng đâu tá, nỡ hoài chén ngọc để trần ai

Trí lăng nhăng toan vượt bể đi tu, hỏi quê Tiên tử nơi mô, xin lĩnh lấy vân đan làm tế độ.

Bài phú Dương Hùng dù nghiệm tá, thì xin tống bần quỷ ra đến miền Đông Hải, để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài

Câu văn Hàn Dũ phỏng thiêng chăng, thì xin tống cùng thần ra đến đất Côn Lôn, để ta gánh vác giang sơn, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú.

Nhọc nhằn cơn nhục, mát cơn vinh

Cay đắng lúc cùng, bùi lúc phú.

Vậy có lời nôm dặn bảo thế gian rằng

Đừng thấy người bạch diện thư sinh

Mà cười rằng “đa cùng tài tử”.

******

  1. Giải Nghĩa Từ

Tài Tử Đa Cùng Phú, nghĩa là bài Phú có tên Tài Tử Đa Cùng.

Tài Tử Đa Cùng, nghĩa là người tài tử gặp lắm nỗi cùng ách.

Bài Phú này, Cao Bá Quát tự than cảnh cùng cực, cũng là giãi bày cái khí tiết cao ngạo của mình.

Trâm anh: cây cài tóc và dải mũ, chỉ nhà thế gia.

Chương phủ: một loại mũ bằng vải thô màu đen, có từ thời nhà Ân. Khổng Tử thường đội mũ này khi ở Tống. Ở đây dùng để chỉ chung nhà Nho.

Tân, Dương: Lạc Tân Vương và Dương Quýnh, hai thi nhân có tiếng đời Đường.

Y, Phó: Y Doãn và Phó Duyệt, hai chính khách có tài trị nước, yên dân đời Thương.

Nhan, Khổng: Nhan Hồi và Khổng Tử. Nhan Hồi tức Nhan Uyên, là học trò của Khổng Tử.

Trình, Chu: Trình Di, Trình Hạo và Chu Hi, phái Nho học đời Tống, phát triển và bổ sung phần vũ trụ quan cho Nho học cổ đại.

Trích Tiên: Tự của Lý Bạch. Lý Bạch đến Trường An thăm Hạ Chi Chương. Chương xem thơ Lý Bạch mà khen rằng, ngài là người cõi tiên bị đày xuống trần. Về sau, người đời gọi Lý Bạch là Trích Tiên.

Lão Đỗ: Tức Đỗ Phủ. Người đời sau gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Đỗ Mục là Tiểu Đỗ.

Trọng Do: Tức Tử Lộ, học trò của Khổng Tử. Khổng Tử từng nói, mặc áo vải gai rách, cùng đứng với người mặc áo cừu, mà không hổ thẹn, là Do.

Phiếu Mẫu: Hàn Tín thuở hàn vi đi câu dưới thành, một hôm đói gặp bà cụ già giặt quần áo thuê, thương tình cho ông một bữa cơm. Sau Hàn Tín giúp Lưu Bang làm đến Tề Vương, tạ ơn bà một ngàn lạng vàng.

Toan hàn: quá ư nghèo khó.

Lửa huỳnh: lấy ánh sáng đom đóm làm đèn.

Chú Tô: Tô Tần đời Đông Chu đi du thuyết các nước chư hầu thất bại, trở về vẫn đói rách, người chị dâu khinh bỉ, không nấu cơm cho ăn.

Anh Mãi: Chu Mãi Thần vai gánh củi, miệng đọc sách, vợ bỏ vì không chịu được cảnh nghèo khó.

Di: Bá Di đời Ân. Khi Vũ Vương dấy quân đánh Trụ, ông giằng cương ngựa can ngăn không được. Trụ mất nước. Vũ Vương lập nhà Chu. Bá Dương cùng em là Thúc Tề, không ăn thóc nhà Chu, bỏ lên núi Thú Dương hái rau, ăn thay cơm rồi chết đói ở đó.

Lã: Lã Vọng tức Khương Tử Nha nhà nghèo, làm các nghề vặt kiếm sống nhưng nhiều lần thất bại. Vợ kèo nhèo, ông nói, người ta dù khát cũng không uống nước sông đục. Ông thường ngồi câu cá trên sông Vị Thủy, sau giúp Vũ Vương khởi nghiệp lập ra nhà Chu, lúc ông đã ngoài tám mươi.

Khóa lợi, giàm danh: danh lợi trói buộc người ta như cái khóa và cái dây buộc mõm ngựa.

Chử Đồng: Tức Chử Đồng Tử, người thời vua Hùng. Tương truyền, Chử Đồng nhà nghèo không có khố che thân, thường đi đánh giặm, hễ gặp người thì nằm xuống, lấy cát phủ lên người. Tình cờ một hôm công chúa Tiên Dung đi du ngoạn, rồi vây màn tắm ngay chỗ chàng náu mình. Tiên Dung cho là có duyên tiền định nên kết duyên cùng chàng.

Vân đan làm tế độ: dùng thuốc tiên chế bằng cây vân hương, thay cho phép Phật để cứu giúp chúng sinh, vượt qua bể khổ.

Dương Hùng: Dương Hùng có bài phú Trục Bần, đuổi con quỷ nghèo ra biển đông.

Hàn Dũ: Hàn Dũ có bài văn Tống Cùng, tiễn thần nghèo ra đảo Côn Lôn.

Thanh khâm: áo xanh, xưa Nho sinh thường mặc.

Cẩm tú: gấm vóc, chỉ Nho sinh đã có thân phận.

******

  1. Thể Loại:

Phú là một thể văn cổ của Việt Nam. Phú thường được dùng trong khoa cử, thi Hương, thi Hội và sử dụng trong các bài văn tế.

Bài Phú này của Cao Bá Quát là Phú Lưu Thủy, tức, không hạn chế số chữ, gần như là văn xuôi. Phú là văn tả cảnh, từ cảnh, tác giả nói đến tình.

Phú có vần và có đối. Một câu có hai vế. Ở vế hai thì gieo vần. Trong bài Tài Tử Đa Cùng này, Cao Bá Quát gần như dùng độc vận, tức chỉ dùng một vần, gieo từ đầu cho đến cuối bài.

******

  1. Nội Dung:

Tài Tử Đa Cùng Phú kể về cuộc đời gặp lắm nỗi cùng ách của Cao Bá Quát.

Với giọng kể chuyện, bài Phú có lúc hào sảng, tươi vui, lúc lại thâm trầm, sâu lắng, buồn bã, đắng cay, đau khổ. Lúc oán thán, xem thường thói đời, lúc lại tin tưởng, hy vọng. Đôi chỗ tự trào, dí dỏm.

Tác giả vốn dòng dõi thế gia vọng tộc, tuấn tú, văn hay, chữ giỏi. Tài năng như có thần linh trợ giúp nên hiếm có trong đời.

Chàng tuổi trẻ với tài năng thiên bẩm, phi phàm tài thơ phú, với khát vọng lớn lao, với mộng bốn bể vẫy vùng, với tâm hồn khoáng đạt, vừa liều lĩnh, vừa ngạo nghễ – tưởng đến khi vinh hiển coi thường.

Nào dè – song nghĩ lại trần ai đếch chỗ.

Từ niềm tin, từ niềm kiêu hãnh vào chính mình đến tột đỉnh trời cao, tác giả rơi xuống vực sâu của thất vọng, của đắng cay, của đói nghèo, của lều tranh, của mưa sa cùng gió thốc, của chiếc đèn chập chờn lửa huỳnh, của áo quần bạc phếch, xác xơ, giãi dầu, của bữa cơm hẩm sì, nhờ cậy.

Dẫu tác giả có cố gắng, thì người nhà đôi khi cũng chán nản, cũng cẳn nhẳn cằn nhằn, cũng buông câu kể khó. Kẻ tài tử lâm vào cảnh khốn cùng, thật khó để vừa giữ được khí tiết mà vẫn vừa tạo được công danh, làm nên nghiệp lớn.

Kẻ sĩ có bền lòng được chăng khi cuộc đời như biển lớn. Nhân tình, nghĩa là tình người, thì nhấp nhố, nhốn nháo, vật vờ như mây nổi, sao tránh khỏi nỗi ngậm ngùi.

Hàng ngày, nhìn thấy bọn quan văn tham lợi vẫn chầu chực hầu môn, uốn lưng vào luồn ra cúi, tự trói thân như phường giá áo túi cơm, tác giả càng thêm lòng ngao ngán. Còn bọn võ quan bất tài, chúng cũng quỳ mòn cả sân tướng phủ, nịnh hót xu phụ, vênh vang với người cùng phố cùng phường.

Kẻ tài tử đa cùng là ta, muốn giữ tiết tháo để phô diễn thực tài, cũng khó bề. Nếu bài Phú của Dương Hùng còn linh nghiệm, thì hãy giúp ta, để ta đem hết tài năng này, ra giúp người, giúp đời. Nếu câu văn của Hàn Dũ còn thiêng, thì hãy giúp ta, để ta đem hết tài năng này, ra gánh vác chuyện non sông, đất nước.

Tài Tử Đa Cùng Phú có thể xem là một kiệt tác văn chương tiêu biểu, không chỉ của tài danh Cao Bá Quát, mà còn cho cả thể loại thơ Nôm của thế kỷ thứ mười chín.

Bài Phú đã thể hiện được phẩm cách tiết tháo, tư tưởng lớn lao, muốn thay đổi thời cuộc, khát vọng mãnh liệt, muốn cống hiến, muốn giúp đời của Cao Bá Quát. Nhưng do tánh tình ngay thẳng, chính trực, không chịu cúi luồn, bợ đỡ, nên ông bị thói đời ô trọc, xấu xa, ghen ghét, ruồng rẫy, ép ông, đẩy ông vào chốn ách cùng – tài tử đa cùng!

******

III/ VĂN NHƯ SIÊU, QUÁT, VÔ TIỀN HÁN / THI ĐÁO TÙNG, TUY, BẤT THỊNH ĐƯỜNG

Cao Bá Quát, là một người vừa đặc biệt, vừa độc đáo. Cả tài năng lẫn tính cách của ông, cái gì cũng “tới”, tới nơi tới chốn. Cuộc đời ông, lên voi, xuống ngựa, không gì không nếm trải.

Vua Tự Đức, dù không biết bao lần bị Cao Bá Quát chơi khăm, do không nể, cũng vẫn phải rất nhiều lần buột miệng thán phục, ngợi khen:

Văn như Siêu, Quát, vô tiền Hán

Thi đáo Tùng, Tuy, bất thịnh Đường

Nghĩa là:

Văn được như Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, thì trước đời Hán, không tìm thấy ai.

Thơ đạt được bằng Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, thì đời thịnh Đường, cũng không có.

******

IV/ CẦU NHÂN VỊ ĐẮC THÀNH CHIÊU HỌA / ĐỒNG BỆNH TƯƠNG LÂN KHƯỚC LỤY NHÂN

việc nhân chưa đặng đà tai họa

bởi cảnh thương nhau mới lụy người

phạm hiền mây

Về bộ Lễ ít lâu, năm một ngàn tám trăm bốn mươi mốt, dưới thời vua Thiệu Trị, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Khi chấm thi, ông thấy có một số những bài văn hay, nhưng lại có chỗ sai phạm vào tên húy. Đây chính là cảnh ngộ của những người như ông ngày trước. Triều đình vốn không thực chất quý trọng nhân tài mà chỉ chăm chăm đến những vụn vặt. Tiếc cho những người có tài mà bị phạm vào những sai sót không đáng, Cao Bá Quát đã cùng bạn chấm thi khác của mình là Phan Nhạ, lấy son hòa với muội đèn chữa chín chữ phạm húy cho hai mươi bốn thí sinh có bài làm tốt.

Trong hai mươi bốn người này, có năm thí sinh đỗ Cử Nhân: Hoàng Kim Minh, Lê Thiều, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Khánh, Phan Văn Trị.

Việc bị lộ, ông bị viên giám sát là Hồ Trọng Tuấn hạch hỏi, luận tội. Nguyễn Văn Siêu, vì dính líu, cũng bị đánh trượng rồi cách chức.

Dù được vua Thiệu Trị giảm án “trảm quyết” xuống “giảo giam hậu” rồi cuối cùng là “tống ngục”, Cao Bá Quát vẫn bị giam cầm, giải từ ngục thất này sang ngục thất khác, bị tra tấn, bị dùng những nhục hình man rợ, độc ác. Đây là những ngày uất ức, đau khổ và căm hờn chế độ nhứt của ông.

******

V/ BÊN NÀY RẰNG: CHÓ / BÊN KIA CŨNG: CHÓ / TRÊN DƯỚI ĐỀU CHÓ.

Vì tài giỏi, xuất sắc hơn nhiều người cùng thời, nên Cao Bá Quát cũng là người có nhiều giai thoại nhứt.

Một trong những giai thoại ấy như sau, bữa nọ, Tự Đức khoe với quần thần, ta nằm mơ, thấy mình làm ra được hai câu thơ:

viên trung oanh chuyển khề khà ngữ

dã ngoại đào hoa lấm tấm khai.

Ý Tự Đức muốn khoe, vừa có chữ Hán, vừa có chữ Nôm của ông, cùng với tuyệt chiêu sử dụng từ láy, đã khiến hai câu thơ trở nên rất hay. Nào dè, Bá Quát bảo, ông đã từng gặp tám câu, chớ không chỉ hai câu như Tự Đức, và rồi ông đọc một lèo:

bảo mã tây phong huếch hoác lai

huênh hoang nhân tự thác đề hồi

viên trung oanh chuyển khề khà ngữ

dã ngoại đào hoa lấm tấm khai

xuân nhật bất văn sương lộp bộp

thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài

khù khờ thi tứ đa nhân thức

khệnh khạng tương lai vấn tú tài.

Một giai thoại nữa, lần nọ, trong tiệc rượu, quan Phan Văn Nhã và quan Võ Văn Khải đưa thơ cho nhau xem. Chẳng biết trái ý thế nào, mà quan Khải chê: văn như thế, chó nó cũng làm được. Thế là lao vào đánh nhau. Cao Bá Quát là người chứng kiến nên vua Tự Đức bắt viết tường trình. Quát bèn báo cáo lên vua như sau:

Quát quá Nhã gia

Nhã hô: Quát, Quát

Quát lai ẩm

Thủ bất tri

Vĩ bất tri

Bất tri như hà

Chỉ kiến lưỡng tương đấu khẩu

Bỉ viết: cẩu

Thử diệc viết: cẩu

Thượng hạ giai cẩu

Lưỡng tương đấu ẩu

Thần kiến thế nguy

Thần cụ thần tẩu.

Dịch nghĩa:

Quát qua nhà Nhã

Nhã gọi: Quát, Quát

Quát đến uống

Đầu không biết

Cuối không biết

Chẳng biết vì sao

Chỉ thấy hai bên cãi cọ

Bên này rằng: chó

Bên kia cũng: chó

Trên dưới đều chó

Hai bên đấu võ

Thần thấy thế nguy

Thần sợ thần chạy.

Vua Tự Đức đọc đến câu: Trên dưới đều chó, biết Bá Quát xỏ mình, nhưng vì Bá Quát tài thơ quá, nên đành nuốt cục tức xuống mà cho qua.

******

VI/ MỘT CHIẾC CÙM LIM CHÂN CÓ ĐẾ / BA VÒNG XÍCH SẮT BƯỚC THÌ VƯƠNG

Lúc Cao Bá Quát bị bức phải rời khỏi kinh đô, đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, ông đã bi phẫn mà đề một câu đối trước cửa, tự chế giễu mình:

Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái

Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.

Thơ Cao Bá Quát là thơ của một tâm hồn cao thượng, thơ của một khí phách ngoan cường, hào tráng mà chua chát, kiêu bạc mà đắng cay, ngông nghênh mà ngậm ngùi, ai oán.

Ông cũng để lại một câu thơ nổi tiếng, nói về khí tiết của kẻ sĩ:

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa.

Dịch nghĩa:

Mười năm lặn lội tìm kiếm cổ

Một đời chỉ biết lạy hoa mai.

Cao Bá Quát, danh sĩ bất phùng thời, một thi tài kỳ tuyệt, lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, vì yêu nước thương nòi mà chống lại sự cường quyền, áp bức. Ông chết thảm, nhưng tên tuổi ông, chí khí ông, tính cách ông, tài thơ ông, sẽ vẫn còn mãi với núi sông, với trang sử Việt Nam hào hùng, với dòng giống người Việt Nam bất khuất.

 

Sài Gòn 13.10.2024

Phạm Hiền Mây

admin

Tôi tham gia đăng tin giúp đọc giả đọc được và tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích hơn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận